Bản dịch
JA 376 — Chuyện Người Lái Đ ò (Tiền thân Avàriya)
1. Avāriyajātaka
848. “Tâu vị chúa tể của trái đất, xin bệ hạ chớ nóng giận. Tâu đấng thủ lãnh xa binh, xin bệ hạ chớ nóng giận. Trong khi không nóng giận lại với kẻ đã nổi nóng, đức vua được xứ sở tôn vinh.
849. Dầu ở làng hoặc ở rừng, dầu ở đất trũng hoặc ở đất bằng, ở tất cả mọi nơi, thần khuyên bảo rằng, tâu đấng thủ lãnh xa binh, xin bệ hạ chớ nóng giận.”
850. “Người cha của nàng Avāriyā đã là người chèo đò ở sông Gaṅgā. Gã đưa người qua sông trước, sau đó mới đòi hỏi tiền công. Vì thế, có sự cãi lộn dành cho gã, và gã không làm gia tăng các của cải.
851. Này người chèo đò thân mến, ông hãy đòi hỏi khi người ta còn chưa qua đến bờ bên kia. Bởi vì, người đã qua sông có ý nghĩ khác, người tầm cầu sự qua sông có ý nghĩ khác.
852. Dầu ở làng hoặc ở rừng, dầu ở đất trũng hoặc ở đất bằng, ở tất cả mọi nơi, ta khuyên bảo rằng, này người chèo đò, xin ông chớ nóng giận.”
853. “Chỉ với lời khuyên bảo, đức vua đã ban cho ân huệ một ngôi làng, với chính lời khuyên bảo ấy, người chèo đò đã đánh vào mặt.
854. Bữa ăn bị vỡ tan, người vợ bị đánh, và bào thai bị sẩy rơi ở mặt đất. Tựa như con thú với khổi vàng, gã chèo đò không làm tăng trưởng lợi ích với lời khuyên bảo ấy.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Māsu kujjha bhūmipati, māsu kujjha rathesabha;
Kuddhaṃ appaṭikujjhanto, rājā raṭṭhassa pūjito.
Do not be angry, O lord of the earth; do not be angry, O bull among charioteers. A king who is not angry in return toward one who is angry is honored by the country.
Tâu đức vua, xin ngài chớ nổi giận. Tâu bậc xa vương, xin ngài chớ nổi giận. Vị vua không nổi giận lại với người đang giận, sẽ được quốc dân kính trọng.
2.
2.
2.
Gāme vā yadi vāraññe, ninne vā yadi vā thale;
Sabbattha anusāsāmi, māsu kujjha † rathesabha.
Whether in a village or in the wilderness, in a valley or on high ground, everywhere I instruct you: do not be angry, O bull among charioteers.
Dù ở trong làng hay trong rừng, dù ở vùng trũng hay trên cạn, ở khắp mọi nơi, tâu bậc xa vương, xin ngài chớ nổi giận. Tôi khuyên dạy như vậy.
3.
3.
3.
Avāriyapitā nāma, ahu gaṅgāya nāviko;
Pubbe janaṃ tāretvāna, pacchā yācati vetanaṃ;
Tenassa bhaṇḍanaṃ hoti, na ca bhogehi vaḍḍhati.
On the Ganges, there was a ferryman named Avāriyapitā. Having first ferried people across, he would afterwards ask for the fare. Because of this, quarrels arose for him, and he did not prosper in wealth.
Trên sông Hằng có người lái đò tên là Avāriyapitā. Ông ta đưa người ta qua sông trước, rồi sau đó mới đòi tiền công. Vì thế, ông ta hay xảy ra cãi vã và tài sản không tăng trưởng.
4.
4.
4.
Atiṇṇaṃyeva yācassu, apāraṃ tāta nāvika;
Añño hi tiṇṇassa mano, añño hoti pāresino †.
Ask while they have not yet crossed to the far shore, O dear ferryman. For the mind of one who has crossed is different, and the mind of one who wishes to cross is different.
Này người lái đò, hãy đòi tiền công khi hành khách chưa qua đến bờ bên kia. Vì quả thật, tâm ý của người đã qua sông thì khác, mà tâm ý của người muốn qua sông lại khác.
5.
5.
5.
Gāme vā yadi vāraññe, ninne vā yadi vā thale;
Sabbattha anusāsāmi, māsu kujjhittha nāvika.
Whether in a village or in the wilderness, in a valley or on high ground, everywhere I instruct you: do not be angry, O ferryman.
Này người lái đò, dù ở trong làng hay trong rừng, dù ở vùng trũng hay trên vùng đất cao, ở khắp mọi nơi, ta khuyên dạy rằng: ‘Chớ nên tức giận’.
6.
6.
6.
Yāyevānusāsaniyā, rājā gāmavaraṃ adā;
Tāyevānusāsaniyā, nāviko paharī mukhaṃ.
For the very instruction for which the king gave a choice village, for that same instruction, the ferryman struck him in the face.
Chính bởi lời khuyên dạy nào mà đức vua đã ban cho ngôi làng quý báu, cũng chính bởi lời khuyên dạy ấy mà người lái đò đã đánh vào mặt.
7.
7.
7.
Bhattaṃ bhinnaṃ hatā bhariyā, gabbho ca patito chamā;
Migova jātarūpena, na tenatthaṃ abandhi sūti †.
The rice bowl was broken, the wife was struck, and the embryo fell to the ground. By that instruction, he did not secure his own welfare, just as a deer is not fashioned from gold.
Bát cơm đã bị vỡ, người vợ đã bị đánh, và bào thai đã rơi xuống đất. Giống như con nai với hình dáng vàng óng, kẻ ấy đã không thể dùng lời khuyên đó để tạo ra lợi ích cho mình.
Avāriyajātakaṃ paṭhamaṃ.
The Avāriya Jātaka, the First.
Chuyện Bổn Sanh Avāriya, phẩm thứ nhất.