Bản dịch
JA 373 — Chuyện Con Chuột (Tiền thân Mùsika)
3. Mūsikajātaka
830. “‘Nó đã đi đâu? Nó đã đi nơi nào?’ người ta lải nhải như thế. Chỉ một mình trẫm biết, con chuột đã bị chết ở trong giếng nước.”
831. “Giống như việc ngươi đi tới đi lui chỗ này và chỗ khác tựa như con lừa, sau khi đã giết chết con chuột ở trong giếng nước, có phải ngươi muốn nhai lúa mạch?”
832. “Này kẻ ngu muội, ngươi là con nít, còn non trẻ, ở giai đoạn đầu của cuộc đời. Sau khi cầm lấy vật có cán dài này, ta sẽ không cho ngươi toàn mạng sống.”
833. “Ta chưa ngự đến cung điện ở cõi trời, hoặc chưa thoát khỏi sự liên hệ với thân thể của ta hoặc với đứa con trai, tuy nhiên ta bị chính đứa con trai cầu mong cho chết và ta được thoát chết nhờ những bài thơ.
834. Nên học tập mọi loại kiến thức thấp thỏi, cao siêu, và trung bình. Nên hiểu biết ý nghĩa của tất cả và không nên gắn bó với tất cả. Vào thời điểm như thế ấy, kiến thức là có sự đem lại lợi ích.”
3. Bổn Sanh Con Chuột.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Kuhiṃ gatā kattha gatā, iti lālappatī jano;
Ahameveko jānāmi, udapāne mūsikā hatā.
‘Where has she gone? Where has she gone?’ Thus the people lament. I alone know that the mouse was killed in the well.
‘Nàng đã đi đâu, nàng đã đến nơi nào?’ Dân chúng than van như vậy. Chỉ một mình ta biết, Mūsikā đã bị giết trong giếng nước.
124.
124.
124.
Yañcetaṃ † iti cīti ca, gadrabhova nivattasi;
Udapāne mūsikaṃ hantvā, yavaṃ bhakkhetumicchasi.
Though you have opportunities to kill from here and there, you turn back like a donkey. Having killed the mouse in the well, you wish to devour the barley.
Và ngươi, với tiếng đàn ‘cīti cīti’ này, lại quay về như một con lừa. Sau khi giết Mūsikā trong giếng nước, ngươi lại muốn ăn lúa mạch.
125.
125.
125.
Daharo cāsi dummedha, paṭhamuppattiko † susu;
Dīghañcetaṃ † samāsajja †, na te dassāmi jīvitaṃ.
You are young, O foolish one, a youth in your first age. And you stand holding this long pestle. I will not grant you your life.
373. Này kẻ ngu si, ngươi còn trẻ, ở tuổi thanh xuân đầu đời. Ngươi đã cầm lấy vật dài này, ta sẽ không cho ngươi mạng sống.
126.
126.
126.
Nāntalikkhabhavanena, nāṅgaputtapinena † vā;
Puttena hi patthayito, silokehi pamocito.
I was not freed by a celestial mansion, nor by the affection of a son dear as my own limbs. Though my son desired my death, I was freed by these verses.
Không phải nhờ cung điện trên không, cũng không phải nhờ sự yêu mến của con trai Aṅgaputta, mà người (cha) bị con trai mình mong muốn (giết) đã được giải thoát nhờ những câu kệ.
127.
127.
127.
Sabbaṃ sutamadhīyetha, hīnamukkaṭṭhamajjhimaṃ;
Sabbassa atthaṃ jāneyya, na ca sabbaṃ payojaye;
Hoti tādisako kālo, yattha atthāvahaṃ sutanti.
One should learn all that is heard—inferior, excellent, and middling. One should know the meaning of it all, but not apply everything. For there comes a time of such a kind when what has been heard is beneficial.
Nên học hỏi tất cả kiến thức, dù là thấp kém, cao thượng hay trung bình. Nên biết ý nghĩa của tất cả, nhưng không nên áp dụng tất cả. Sẽ có lúc như vậy, khi kiến thức (đã học) mang lại lợi ích.
Mūsikajātakaṃ tatiyaṃ.
The Mouse Jātaka, the Third.
Chuyện Bổn Sanh Mūsikā, thứ ba.