Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
JA 369

Bản dịch

JA 369Chuyện Chàng Trai Mittavinda (Tiền thân Mittavinda)

9. Mittavindakajātaka

807. “Tôi đã làm điều gì đối với chư Thiên, điều ác gì đã được tạo ra bởi tôi khiến bánh xe giáng xuống đầu và quay tròn ở trên đỉnh đầu (của tôi)?”

808. “Sau khi đã vượt qua lâu đài pha-lê, lâu đài bạc, lâu đài ngọc ma-ni, và lâu đài vàng, vì mục đích gì mà ngươi đã đi đến nơi này?”

809. “Tôi nghĩ rằng các của cải nơi kia sẽ nhiều hơn nơi này, như vậy do ý nghĩ này, ngài hãy nhìn xem tôi đã đi đến sự bất hạnh.”

810. “Với bốn, gã đã đi đến tám, và với tám rồi mười sáu, và với mười sáu rồi ba mươi hai, trong khi ước muốn quá lố, gã nhận lấy bánh xe. Bánh xe quay tròn ở trên đầu của kẻ bị hành hạ bởi ước muốn.

811. Các ước muốn quá to lớn là khó được làm cho đầy đủ, chúng có khuynh hướng lan tỏa rộng ra. Những người nào thèm muốn điều ấy, những kẻ ấy trở thành những người mang bánh xe (ở trên đầu).”

9. Bổn Sanh Mittavindaka.