Bản dịch
JA 368 — Chuyện Dây Trói Buộc (Tiền thân Tacasàra)
8. Tacasārajātaka
802. “Bị rơi vào trong tay của kẻ thù, bị trói buộc bởi cật của cây tre, các ngươi vẫn có sắc mặt điềm tĩnh, tại sao các ngươi không sầu muộn?”
803. “Lợi ích không thể nào đạt được do sầu muộn do than vãn, thậm chí chỉ là chút ít. Sau khi biết kẻ ấy đang sầu muộn, bị khổ sở, các địch thủ trở nên hoan hỷ.
804. Và thật vậy, bởi vỉ người sáng suốt trong những lúc rủi ro, không run rẩy, biết cách phán quyết tình huống. Các địch thủ của người này bị đau khổ, sau khi nhìn thấy khuôn mặt như cũ, không thay đổi.
805. Do việc lẩm bẩm (cầu nguyện), do chú thuật, do việc khéo nói, do việc hối lộ, hoặc do dòng dõi gia tộc, ở nơi nào có thể đạt được lợi ích theo cách này hay cách khác, thì ở nơi ấy nên nỗ lực theo cách thức như thế ấy.
806. Và khi có thể biết được rằng lợi ích ấy là không thể đạt được bởi chính ta hoặc bởi người khác, không nên sầu muộn và nên chịu đựng (nghĩ rằng): ‘Nghiệp là chắc chắc, ta làm gì giờ đây.’”
8. Bổn Sanh Cật Của Cây Tre.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Amittahatthatthagatā †, tacasārasamappitā;
Pasannamukhavaṇṇāttha, kasmā tumhe na socatha.
Having fallen into the hands of enemies, bound with bamboo strips, you have serene facial complexions; why do you not grieve?
Các ngươi đã rơi vào tay kẻ thù, bị trói bằng lõi tre, lại có sắc mặt trong sáng. Tại sao các ngươi không sầu muộn?
96.
96.
96.
Na socanāya paridevanāya, atthova labbho † api appakopi;
Socantamenaṃ dukhitaṃ viditvā, paccatthikā attamanā bhavanti.
By sorrowing and by lamenting, not even the slightest benefit is obtained. Knowing one to be sorrowing and afflicted, the enemies become pleased.
Dù chỉ là một lợi ích nhỏ nhoi cũng không thể đạt được bằng sự sầu muộn hay bằng sự than khóc. Khi biết được người này đang sầu muộn, đang đau khổ, kẻ thù trở nên vui mừng.
97.
97.
97.
Yato ca kho paṇḍito āpadāsu, na vedhatī atthavinicchayaññū;
Paccatthikāssa † dukhitā bhavanti, disvā mukhaṃ avikāraṃ purāṇaṃ.
But when a wise man, who knows how to discern what is beneficial, does not waver in the midst of calamities, his adversaries become distressed on seeing his face unchanged, as it was before.
Và khi nào bậc trí tuệ, người biết phân định lợi ích, không dao động trong nghịch cảnh; kẻ thù của vị ấy trở nên đau khổ khi thấy gương mặt không thay đổi, vẫn như trước.
98.
98.
98.
Jappena mantena subhāsitena, anuppadānena paveṇiyā vā;
Yathā yathā yattha labhetha atthaṃ, tathā tathā tattha parakkameyya.
By incantation, by counsel, by well-spoken words, by giving bribes, or by citing lineage; in whatever way and in whatever matter one might obtain the benefit, in that very way and in that matter one should strive.
Bằng cách thì thầm, bằng cách bàn bạc, bằng lời khéo nói, bằng cách biếu tặng, hay bằng cách nêu lên dòng dõi; theo cách nào có thể đạt được lợi ích trong trường hợp nào, thì nên cố gắng trong việc ấy bằng cách đó.
99.
99.
99.
Yato ca jāneyya alabbhaneyyo, mayā va † aññena vā esa attho;
Asocamāno adhivāsayeyya, kammaṃ daḷhaṃ kinti karomi dānīti.
And when one knows, 'This benefit is unobtainable either by me or by another,' one should endure without sorrowing, thinking: 'Kamma is firm; what can I do now?'
Và khi nào biết rằng lợi ích này không thể đạt được bởi ta hay bởi người khác; khi ấy, không sầu muộn, nên chịu đựng (và nghĩ rằng): 'Nghiệp thật vững chắc. Bây giờ ta có thể làm gì được?'
Tacasārajātakaṃ aṭṭhamaṃ.
The Tacasāra Jātaka, the Eighth.
Chuyện Bổn Sanh Tacasāra là chuyện thứ tám.