Bản dịch
JA 366 — Chuyện Con Quỷ Gumbiya (Tiền thân Gumbiya)
6. Gumbiyajātaka
792. “Chất độc có màu sắc của mật ong, có vị của mật ong, có hương của mật ong. Dạ-xoa Gumbiya, với sự tìm kiếm thực phẩm, đã đặt để chất độc ở trong rừng.
793. Những kẻ nào nghĩ rằng: ‘Mật ong’ rồi đã ăn vào chất độc ấy. Đối với những kẻ ấy, chất ấy có vị cay. Họ đã đi đến cái chết vì chất độc ấy.
794. Và quả thật những người nào, sau khi xem xét, đã lánh xa chất độc ấy, những người ấy được an lạc, được thoát khỏi các cơn bệnh đang thiêu đốt.
795. Tương tự y như thế ở loài người, chất độc là các dục đã được phô bày, và vật chất này là sự trói buộc, quyền lực của thần chết có sự trú ngụ ở thân xác này.
796. Tương tự y như thế, những người nào luôn luôn lánh xa các dục, các bệnh tật, các sự trói buộc này, những người ấy vượt qua sự quyến luyến ở thế gian.”
6. Bổn Sanh Dạ-xoa Gumbiya.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Madhuvaṇṇaṃ madhurasaṃ, madhugandhaṃ visaṃ ahu;
Gumbiyo ghāsamesāno, araññe odahī visaṃ.
There was a poison, honey-colored, honey-flavored, and honey-scented. Gumbiya, seeking prey, placed this poison in the wilderness.
Có một loại độc dược có màu của mật, vị của mật, và mùi của mật. Dạ-xoa Gumbiya, trong khi tìm kiếm thức ăn, đã đặt chất độc ấy trong rừng.
86.
86.
86.
Madhu iti maññamānā †, ye taṃ visamakhādisuṃ †;
Tesaṃ taṃ kaṭukaṃ āsi, maraṇaṃ tenupāgamuṃ.
Thinking it was honey, those who consumed that poison found it became bitter for them, and by that they came to death.
Những ai, vì tưởng rằng đó là mật ong, đã ăn chất độc ấy, đối với họ, nó đã trở nên cay đắng, và do đó, họ đã đi đến cái chết.
87.
87.
87.
Ye ca kho paṭisaṅkhāya, visaṃ taṃ parivajjayuṃ;
Te āturesu sukhitā, ḍayhamānesu nibbutā.
But those who, after reflection, avoided that poison, are happy among the afflicted and at peace among those who burn.
Và những ai, sau khi quán xét, tránh xa chất độc ấy; các vị ấy được an lạc giữa những người đau khổ, được tịch tịnh giữa những người bị thiêu đốt.
88.
88.
88.
Evameva manussesu, visaṃ kāmā samohitā;
Āmisaṃ bandhanañcetaṃ, maccuveso † guhāsayo.
366. Just so among humans, the collections of sensual pleasures are poison. This is bait and a bond, the domain of death, that which lies in a cave.
Cũng như thế ấy, ở giữa loài người, các dục vọng được tích tụ là chất độc. Điều này là mồi nhử và là sự trói buộc, là lãnh địa của thần chết, là hang ổ (của phiền não).
89.
89.
89.
Evameva ime kāme, āturā paricārike †;
Ye sadā parivajjenti, saṅgaṃ loke upaccagunti.
Likewise, those who always avoid these sensual pleasures—which are afflictions and attendants—transcend attachment in the world.
Cũng như thế ấy, những ai luôn luôn tránh xa các dục vọng này, vốn là đau khổ, là sự phục dịch; các vị ấy đã vượt qua sự dính mắc ở trong thế gian.
Gumbiyajātakaṃ chaṭṭhaṃ.
The Gumbiya Jātaka, the Sixth.
Chuyện Bổn Sanh Gumbiya là chuyện thứ sáu.