Bản dịch
JA 365 — Chuyện Người Luyện Rắn (Tiền thân Ahigundika)
5. Ahituṇḍikajātaka
787. “Này anh bạn có khuôn mặt đẹp, ta là kẻ đánh bạc, bị thua vì những con súc sắc ở sòng bạc. Bạn hãy ném xuống những trái xoài chín, chúng ta sẽ thọ hưởng sự nỗ lực của bạn.”
788. “Này ông bạn, quả thật ông ca ngợi không đúng về ta bằng điều dối trá; ông đã nghe hoặc đã thấy con khỉ nào được gọi là có khuôn mặt đẹp?
789. Này người bắt rắn, hôm nay vẫn còn trong trí của ta về việc ông đối xử với ta, sau khi đi vào tiệm bán ngũ cốc, ông, bị say rượu, đã đánh đập ta lúc ta đang bị đói khát.
790. Trong khi ta nhớ lại việc nằm dài khổ sở, thậm chí ông có cho ta làm vua, ta sẽ không bao giờ ban thưởng cho ngươi dầu được cầu xin, bởi vì ta đã bị kinh hoàng vì sợ hãi như thế ấy.
791. Và nếu biết người nào đã được sanh ra trong gia đình danh giá, được nuôi dưỡng đầy đủ lúc ở bào thai, không bỏn xẻn, bậc sáng trí có thể kết giao bạn bè và thân hữu với người ấy.”
5. Bổn Sanh Người Bắt Rắn.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Dhuttomhi samma sumukha, jūte akkhaparājito;
Harehi † ambapakkāni, vīriyaṃ te bhakkhayāmase.
I am a rogue, friend Sumukha, defeated at dice; fetch ripe mangoes, and let us eat the fruit of your effort.
Này bạn Sumukha, tôi đã bị lừa, tôi đã thua trong trò xúc xắc. Hãy mang những quả xoài chín đến đây, chúng ta hãy cùng ăn thành quả do nỗ lực của bạn.
81.
81.
81.
Alikaṃ vata maṃ samma, abhūtena pasaṃsasi;
Ko te suto vā diṭṭho vā, sumukho nāma makkaṭo.
Truly, friend, you praise me with what is untrue. Your word is indeed false. Where have you heard of or seen a monkey named Sumukha?
Này bạn, thật là sai lầm khi bạn khen ngợi tôi bằng những điều không thật. Bạn đã từng nghe hay từng thấy ở đâu một con khỉ tên là Sumukha (mặt đẹp) chưa?
82.
82.
82.
Ajjāpi me taṃ manasi †, yaṃ maṃ tvaṃ ahituṇḍika;
Dhaññāpaṇaṃ pavisitvā, matto † chātaṃ hanāsi maṃ.
365. Even today that is in my mind, how you, O snake-charmer, having entered the grain market, being intoxicated, struck me when I was hungry.
Này người bắt rắn, cho đến nay, điều đó vẫn còn trong tâm trí tôi, việc ông khi đi vào khu chợ ngũ cốc, đã say và đánh tôi lúc tôi đang đói.
83.
83.
83.
Tāhaṃ saraṃ dukkhaseyyaṃ, api rajjampi kāraye;
Nevāhaṃ yācito dajjaṃ, tathā hi bhayatajjito.
Remembering that painful experience, even if you were to grant me a kingdom, I, being begged, would not give, for I was so threatened by danger.
Tôi vẫn nhớ sự nằm ngủ khổ sở đó; dù cho ông có cho tôi cả vương quốc, tôi cũng sẽ không cho ông những gì ông yêu cầu, vì tôi đã bị ông đe dọa bằng sự sợ hãi.
84.
84.
84.
Yañca jaññā kule jātaṃ, gabbhe tittaṃ amacchariṃ;
Tena sakhiñca mittañca, dhīro sandhātumarahatīti.
A wise person should form companionship and friendship with one whom he knows to be of good birth, inherently content, and unselfish.
Bậc hiền trí nên thiết lập tình thân hữu và tình bạn với người mà mình biết là sinh ra trong gia đình tốt, bẩm sinh đã biết đủ và không keo kiệt.
Ahituṇḍikajātakaṃ pañcamaṃ.
The Ahituṇḍika Jātaka, the Fifth.
Chuyện Bổn sanh Người Bắt Rắn, phẩm thứ năm.