Bản dịch
JA 363 — Chuyện Hổ Thẹn (Tiền thân Hiri)
3. Hirijātaka
777. “Người vượt qua liêm sỉ, xem thường (tình bạn), người nói rằng: ‘Tôi là thuộc về bạn,’ người không chọn lấy các công việc tốt hơn (cho bạn), nên biết rõ về kẻ ấy rằng: ‘Người này không phải là bạn của ta.’
778. Có thể làm điều gì thì nên nói điều ấy, không thể làm điều gì thì không nên nói điều ấy. Các bậc sáng suốt biết rõ người nói mà không làm.
779. Kẻ nào luôn cảnh giác, ngờ vực sự chia rẽ, có sự soi mói khuyết điểm, kẻ ấy không phải là bạn. Người nào không bị chia cắt bởi những kẻ khác, và ở người nào (có thể) trông cậy được (không có sự nghi ngờ, không có sự sợ hãi), tựa như đứa con trai nằm dựa vào ngực (mẹ), người ấy quả thật là bạn.”
780. Trong khi thực hành phận sự của con người, người cân nhắc về kết quả và sự lợi ích làm tăng trưởng (tình bạn thông qua) việc tạo ra sự vui thích, sự nâng đỡ, sự đem lại lời khen tặng, sự thoải mái.
781. Sau khi đã uống hương vị của sự ẩn cư và hương vị của sự an tịnh, người uống hương vị hoan hỷ của Giáo Pháp trở nên không còn buồn bực, không còn ác xấu.”
3. Bổn Sanh Sự Liêm Sỉ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Hiriṃ tarantaṃ vijigucchamānaṃ, tavāhamasmī iti bhāsamānaṃ;
Seyyāni kammāni anādiyantaṃ, neso mamanti iti naṃ vijaññā.
363. One who transgresses shame, who is disgusted by friendship, who only says, “I am your friend,” but does not undertake excellent deeds—one should know of him: “This one is not my friend.”
Người vượt qua sự hổ thẹn, kẻ ghê tởm (tình bạn), người chỉ nói suông rằng: 'Tôi là bạn của anh', mà không làm những việc cao thượng, hãy biết người ấy rằng: 'Người này không phải bạn của ta'.
71.
71.
71.
Yañhi kayirā tañhi vade, yaṃ na kayirā na taṃ vade;
Akarontaṃ bhāsamānaṃ, parijānanti paṇḍitā.
What one would do, that one should say; what one would not do, one should not say. The wise discern the one who speaks but does not act.
Làm việc gì thì nên nói việc ấy, không làm việc gì thì không nên nói việc ấy. Bậc hiền trí nhận biết rõ người nói mà không làm.
72.
72.
72.
Na so mitto yo sadā appamatto, bhedāsaṅkī randhamevānupassī;
Yasmiñca setī urasīva putto, sa ve mitto yo abhejjo parehi.
He is not a friend who is ever vigilant, suspicious of a break, always looking for a flaw. But he in whom a friend reposes without apprehension, as a son on a mother’s breast—he is truly a friend, one who cannot be divided by others.
Người luôn cảnh giác, nghi ngờ sự chia rẽ, chỉ rình tìm sơ hở, người ấy không phải là bạn. Người mà ta có thể tin cậy như con thơ nằm trong lòng mẹ, người không thể bị kẻ khác chia rẽ, đó thật sự là bạn.
73.
73.
73.
Pāmojjakaraṇaṃ ṭhānaṃ, pasaṃsāvahanaṃ sukhaṃ;
Phalānisaṃso bhāveti, vahanto porisaṃ dhuraṃ.
Bearing the manly yoke, one develops a cause for joy, happiness that brings praise, and the fruit and its benefits.
Người thấy được quả báu lợi ích, khi gánh vác gánh nặng của bậc trượng phu, sẽ phát triển được nền tảng tạo ra hân hoan và hạnh phúc mang lại lời tán dương.
74.
74.
74.
Pavivekarasaṃ pitvā, rasaṃ upasamassa ca;
Niddaro hoti nippāpo, dhammappītirasaṃ pivanti.
Having drunk the taste of seclusion and the taste of peace, one becomes free from anguish and free from evil, drinking the taste of joy in the Dhamma.
Sau khi uống vị của sự độc cư và vị của sự an tịnh, người ấy uống vị hỷ của Chánh pháp, trở nên không sầu muộn, không tội lỗi.
Hirijātakaṃ tatiyaṃ.
The Hiri Jātaka, the Third.
Chuyện Bổn sanh Tàm Quý, phẩm thứ ba.