Bản dịch
JA 362 — Chuyện Thử Nghiệm Đức Hạnh (Tiền thân S ìlavimamsa)
2. Sīlavīmaṁsajātaka
772. “Thần đã có hoài nghi rằng: ‘Giới hạnh là tốt hơn hay kiến thức là tốt hơn.’ Hoài nghi của thần không còn nữa: ‘Giới hạnh là tốt hơn kiến thức.’
773. Dòng dõi và sắc đẹp là vô ích, nghe nói chỉ có giới hạnh là tối thượng. Đối với người không thành tựu giới hạnh, lợi ích do kiến thức không tồn tại.
774. Vị Sát-đế-lỵ duy trì phi pháp và thương nhân nương tựa phi pháp, những kẻ ấy tái sanh vào khổ cảnh sau khi lìa bỏ cả hai thế giới (người và Trời).
775. Các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn, các thương buôn, các nô bộc, các người hạ tiện, và các người hốt rác, sau khi thực hành đức hạnh ở nơi này, sẽ được bình đẳng ở cõi Trời.
776. Các kiến thức không đưa đến tương lai, dòng dõi cũng không, các thân quyến cũng không, và giới hạnh hoàn toàn trong sạch của bản thân là nguồn đem lại hạnh phúc ở tương lai.”
2. Bổn Sanh Suy Xét Về Giới.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sīlaṃ seyyo sutaṃ seyyo, iti me saṃsayo ahu;
Sīlameva sutā seyyo, iti me natthi saṃsayo.
Is virtue superior, or is learning superior? This was my doubt. Virtue itself is superior to learning; on this I have no doubt.
Giới đức cao quý hơn hay đa văn cao quý hơn? Con đã từng có sự hoài nghi như vậy. Chính giới đức cao quý hơn đa văn, về điều này con không còn hoài nghi nữa.
66.
66.
66.
Moghā jāti ca vaṇṇo ca, sīlameva kiruttamaṃ;
Sīlena anupetassa, sutenattho na vijjati.
Birth and appearance are in vain; it is virtue that is truly supreme. For one who is not endowed with virtue, there is no benefit from learning.
Dòng dõi và giai cấp là vô ích, chính giới đức quả là tối thượng. Đối với người không có giới đức, sự đa văn không có lợi ích gì.
67.
67.
67.
Khattiyo ca adhammaṭṭho, vesso cādhammanissito;
Te pariccajjubho loke, upapajjanti duggatiṃ.
A warrior who is unrighteous and a merchant who relies on unrighteousness: having departed from the world, both are reborn in a woeful state.
Người Sát-đế-lỵ không an trú trong Chánh pháp, và người Phệ-xá nương tựa vào phi pháp; cả hai người ấy, sau khi từ bỏ thế gian này, đều tái sanh vào ác thú.
68.
68.
68.
Khattiyā brāhmaṇā vessā, suddā caṇḍālapukkusā;
Idha dhammaṃ caritvāna, bhavanti tidive samā.
Warriors, brahmins, merchants, workers, outcastes, and scavengers: having practiced the Dhamma here, they become equal in the heavenly world.
Những người Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la, Chiên-đà-la và Pukkusa, sau khi thực hành Chánh pháp ở đời này, đều trở nên bình đẳng ở cõi trời.
69.
69.
69.
Na vedā samparāyāya, na jāti nāpi † bandhavā;
Sakañca sīlaṃ saṃsuddhaṃ, samparāyāya sukhāya cāti †.
The Vedas are not for the next world, nor are birth or relatives. But one’s own purified virtue is for the next world and for happiness.
Kinh Vệ-đà không dành cho đời sau, dòng dõi cũng không, bà con cũng không. Chính giới đức trong sạch của bản thân mới dành cho đời sau và cho hạnh phúc.
Sīlavīmaṃsajātakaṃ dutiyaṃ.
The Sīlavīmaṃsa Jātaka, the Second.
Chuyện Bổn sanh Thẩm xét Giới đức, phẩm thứ hai.