Bản dịch
JA 361 — Chuyện Sắc Đẹp (Tiền thân Vann àroha)
1. Vaṇṇārohajātaka
767. “Nghe nói sư tử Sudāṭha nói rằng: ‘Cọp Subāhu không hơn ta về màu da và dáng vóc, về dòng dõi, về sức mạnh, và về sự dũng cảm,’ có đúng không?”
768. “Nghe nói cọp Subāhu nói rằng: ‘Sư tử Sudāṭha không hơn ta về màu da và dáng vóc, về dòng dõi, về sức mạnh, và về sự dũng cảm,’ có đúng không?
769. Này bạn Subāhu, trong khi tôi sống như vậy nếu bạn muốn hại tôi, thì từ nay, tôi sẽ không thích thú việc cộng trú với bạn nữa.
770. Kẻ nào tin các lời nói của những người khác là sự thật, thì có thể bị sứt mẻ tình bạn một cách mau chóng và tạo ra sự thù hận với nhiều người.
771. Kẻ nào luôn cảnh giác, ngờ vực sự chia rẽ, có sự soi mói khuyết điểm, kẻ ấy không phải là bạn. Người nào không bị chia cắt bởi những kẻ khác, và ở người nào (có thể) trông cậy được (không có sự nghi ngờ, không có sự sợ hãi), tựa như đứa con trai nằm dựa vào ngực (mẹ), người ấy quả thật là bạn.”
1. Bổn Sanh Màu Da và Dáng Vóc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Vaṇṇārohena jātiyā, balanikkamanena ca;
Subāhu na mayā seyyo, sudāṭha iti bhāsasi.
“In appearance and stature, by birth, and by strength and exertion, do you say, O Sudāṭha, ‘Subāhu is not my superior’?”
Hỡi Sudāṭha, có phải ngươi nói rằng: 'Về vóc dáng, dòng dõi, và sức mạnh nỗ lực, Subāhu không hơn ta'?
61.
61.
61.
Vaṇṇārohena jātiyā, balanikkamanena ca;
Sudāṭho na mayā seyyo, subāhu iti bhāsasi.
“In appearance and stature, by birth, and by strength and exertion, do you say, O Subāhu, ‘Sudāṭha is not my superior’?”
Hỡi Subāhu, có phải ngươi nói rằng: 'Về vóc dáng, dòng dõi, và sức mạnh nỗ lực, Sudāṭha không hơn ta'?
62.
62.
62.
Evaṃ ce maṃ viharantaṃ, subāhu samma dubbhasi;
Na dānāhaṃ tayā saddhiṃ, saṃvāsamabhirocaye.
“Friend Subāhu, if you should betray me while I am living thus in harmony, I now no longer take delight in living together with you.”
Hỡi bạn Subāhu, nếu ngươi làm hại ta, người đang sống hòa hợp như thế này, thì bây giờ ta không còn thích sống chung với ngươi nữa.
63.
63.
63.
Yo paresaṃ vacanāni, saddaheyya † yathātathaṃ;
Khippaṃ bhijjetha mittasmiṃ, verañca pasave bahuṃ.
Whoever would believe the words of others as true and real would quickly break with a friend and beget much enmity.
Người nào tin tưởng lời nói của kẻ khác một cách không suy xét, tình bạn của người ấy sẽ nhanh chóng tan vỡ, và sẽ sinh ra nhiều oán thù.
64.
64.
64.
Na so mitto yo sadā appamatto, bhedāsaṅkī randhamevānupassī;
Yasmiñca setī urasīva putto, sa ve mitto yo abhejjo parehīti.
He is not a friend who is ever vigilant, suspicious of a break, always looking for a flaw. But he in whom one reposes as a son on a mother’s breast—he is truly a friend, one who cannot be divided by others.
Người luôn cảnh giác, nghi ngờ sự chia rẽ, chỉ tìm kiếm lỗi lầm, người đó không phải là bạn. Người mà ở bên cạnh, ta có thể yên tâm như đứa con nằm trên ngực mẹ, người không thể bị chia rẽ bởi kẻ khác, người đó thật sự là bạn.
Vaṇṇārohajātakaṃ paṭhamaṃ.
The Vaṇṇāroha Jātaka, the First.
Chuyện Bổn sanh Vaṇṇāroha, câu chuyện thứ nhất.