Bản dịch
JA 359 — Chuyện Con Nai Vàng (Tiền thân Suvannamiga)
9. Suvaṇṇamigajātaka
757. “Hỡi nai lớn, chàng hãy cố gắng. Hỡi chân vàng, chàng hãy cố gắng. Chàng hãy giựt đứt lưới bẫy với đai da. Một mình, thiếp sẽ không vui thích ở khu rừng.”
758. “Ta cố gắng nhưng không thoát được. Ta tống mạnh vào mặt đất. Lưới bẫy với đai da cứng rắn cứa đứt bàn chân của ta.”
759. “Này người thợ săn, ông hãy trải rộng các lá cây, rồi hãy rút gươm ra. Ông hãy giết chết tôi trước, rồi giết chết con nai lớn sau.”
760. “Ta chưa từng được nghe hay được thấy con nai cái nói tiếng người. Này nai hiền, cầu cho ngươi và luôn cả con nai lớn ấy được an lành..”
761. “Này người thợ săn, mong rằng ông cùng với tất cả thân quyến được vui mừng như vầy, giống như tôi hôm nay được vui mừng, sau khi nhìn thấy con nai lớn được cứu thoát.”
9. Bổn Sanh Con Nai Vàng.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Vikkama re haripāda †, vikkama re mahāmiga †;
Chinda vārattikaṃ pāsaṃ, nāhaṃ ekā vane rame.
Strive, O golden-footed one! Strive, O great deer! Cut the leather-strap snare; I cannot delight alone in the forest.
Hỡi nai chân vàng, hãy cố gắng lên! Hỡi con nai lớn, hãy cố gắng lên! Hãy cắt đứt chiếc bẫy thòng lọng bằng da, thiếp không thể vui thích một mình trong rừng.
51.
51.
51.
Vikkamāmi na pāremi, bhūmiṃ sumbhāmi vegasā;
Daḷho vārattiko pāso, pādaṃ me parikantati.
I strive, but I am not able. I kick the ground with force. The leather-strap snare is strong; it cuts all around my foot.
Ta cố gắng nhưng không thể, ta dùng sức mạnh đá vào đất. Chiếc bẫy thòng lọng bằng da thật chắc chắn, nó đang cắt vào chân ta.
52.
52.
52.
Attharassu palāsāni, asiṃ nibbāha luddaka;
Paṭhamaṃ maṃ vadhitvāna, hana pacchā mahāmigaṃ.
Spread out the leaves, O hunter, and draw your sword. Having first killed me, kill the great deer afterwards.
Hỡi người thợ săn, hãy trải lá cây ra, hãy rút gươm ra. Sau khi giết tôi trước, rồi sau đó hãy giết con nai lớn.
53.
53.
53.
Na me sutaṃ vā diṭṭhaṃ vā, bhāsantiṃ mānusiṃ migiṃ †;
Tvañca bhadde sukhī hohi, eso cāpi mahāmigo.
Never before have I heard or seen a doe speaking with a human voice. May you be happy, good lady, and may this great deer also be happy.
Ta chưa từng nghe hay thấy một con nai cái nói tiếng người. Này hiền nương, mong nàng được an lạc, và mong con nai lớn này cũng được an lạc.
54.
54.
54.
Evaṃ luddaka nandassu, saha sabbehi ñātibhi;
Yathāhamajja nandāmi, muttaṃ disvā mahāmiganti.
Thus, O hunter, may you rejoice, together with all your kinsmen, just as I rejoice today, seeing the great deer freed.
Hỡi người thợ săn, mong ông cũng hoan hỷ cùng với tất cả bà con quyến thuộc, giống như hôm nay tôi hoan hỷ khi thấy con nai lớn được giải thoát.
Suvaṇṇamigajātakaṃ navamaṃ.
The Suvaṇṇamiga Jātaka, the ninth.
Chuyện Bổn sanh Suvaṇṇamiga, câu chuyện thứ chín.