Bản dịch
JA 357 — Chuyện Chim Cút (Tiền thân Latukikà)
7. Laṭukikajātaka
746. “Thưa ông voi, tôi xin đảnh lễ ngài, vị có sáu mươi tuổi thọ, ở trong rừng, chúa bầy, có danh vọng. Tôi chắp hai cánh lại làm lễ ngài. Xin ngài chớ hại chết những chim con yếu ớt của tôi.”
747. “Thưa ông voi, tôi xin đảnh lễ ngài, vị độc hành, ở trong rừng, đi kiếm ăn ở vùng núi đồi. Tôi chắp hai cánh lại làm lễ ngài. Xin ngài chớ hại chết những chim con yếu ớt của tôi.”
748. “Ta sẽ giết hại những chim cút con của ngươi. Ngươi là loài yếu ớt, ngươi sẽ làm gì ta? Đối với một trăm ngàn chim cút như thế ấy, ta có thể dẫm nát với bàn chân trái.”
749. “Không hẳn ở mọi nơi đều có việc phải làm với sức mạnh, chính sức mạnh đem lại sự chết chóc cho kẻ ngu. Này voi chúa, ta sẽ làm điều bất lợi đối với ngươi, kẻ đã giết hại những chim con yếu ớt của ta.”
750. “Hãy nhìn xem con quạ, con chim cút, con ếch, và con nhặng xanh. Những con vật này đã giết chết con voi. Hãy nhìn xem người có thù hận đưa đến sự thù hận, vì thế không nên tạo ra sự thù hận với kẻ không yêu mến và với bất cứ người nào.”
7. Bổn Sanh Chim Cút.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Vandāmi taṃ kuñjara saṭṭhihāyanaṃ, āraññakaṃ yūthapatiṃ yasassiṃ;
Pakkhehi taṃ pañjalikaṃ karomi, mā me vadhī puttake dubbalāya.
I pay homage to you, O king of elephants, sixty years of age, a forest-dweller, leader of the herd, one with a great retinue. With my wings I make the añjali gesture to you. Do not kill the young ones of me, who am weak.
Con xin đảnh lễ ngài, voi chúa sáu mươi tuổi, sống trong rừng, là thủ lĩnh của bầy đàn, đầy danh tiếng. Con dùng đôi cánh chắp lại để tỏ lòng tôn kính ngài. Xin ngài đừng giết các con nhỏ của con, một sinh vật yếu đuối.
40.
40.
40.
Vandāmi taṃ kuñjara ekacāriṃ, āraññakaṃ pabbatasānugocaraṃ;
Pakkhehi taṃ pañjalikaṃ karomi, mā me vadhī puttake dubbalāya;
I pay homage to you, O king of elephants, who wanders alone, lives in the forest, and finds food on mountain slopes and plateaus. With my wings I make the añjali gesture to you. Do not kill the young ones of me, who am weak.
Con xin đảnh lễ ngài, voi chúa đi một mình, sống trong rừng, kiếm ăn trên các sườn núi. Con dùng đôi cánh chắp lại để tỏ lòng tôn kính ngài. Xin ngài đừng giết các con nhỏ của con, một sinh vật yếu đuối.
41.
41.
41.
Vamissāmi te laṭukike puttakāni, kiṃ me tuvaṃ kāhasi dubbalāsi;
Sataṃ sahassānipi tādisīnaṃ, vāmena pādena papothayeyyaṃ.
O little quail hen, I will kill your young ones. You are weak; what can you do to me? Even a hundred thousand such as you, I could crush with just my left foot.
Này chim cút, ta sẽ giết các con của ngươi. Ngươi yếu ớt như vậy, có thể làm gì được ta? Dù có một trăm ngàn con chim như ngươi, ta cũng có thể dùng chân trái mà nghiền nát.
42.
42.
42.
Na heva sabbattha balena kiccaṃ, balañhi bālassa vadhāya hoti;
Karissāmi te nāgarājā anatthaṃ, yo me vadhī puttake dubbalāya.
Indeed, a deed is not always accomplished by strength, for strength leads to the destruction of a fool. I will bring you harm, O king of elephants, you who killed the young ones of me, who am weak.
Không phải việc gì cũng có thể làm được bằng sức mạnh. Sức mạnh của kẻ ngu dốt sẽ dẫn đến sự hủy diệt cho chính nó. Này voi chúa, ta sẽ gây ra tai họa cho ngươi, kẻ đã giết các con nhỏ của ta, một sinh vật yếu đuối.
43.
43.
43.
Kākañca passa laṭukikaṃ, maṇḍūkaṃ nīlamakkhikaṃ;
Ete nāgaṃ aghātesuṃ, passa verassa verinaṃ;
Tasmā hi veraṃ na kayirātha, appiyenapi kenacīti.
O monks, behold the crow and the quail, the frog and the blue fly. These killed the elephant. See the result of an enemy's enmity! Therefore, one should not create enmity with anyone at all, not even with one who is disliked.
Hãy xem con quạ, chim cút, con ếch, và con ruồi xanh. Chúng đã giết được con voi. Hãy xem sự hận thù của kẻ địch. Do đó, không nên gây thù chuốc oán với bất kỳ ai, dù là người mình không ưa thích.
Laṭukikajātakaṃ sattamaṃ.
The Laṭukika Jātaka, the seventh.
Bổn sanh Laṭukikā, câu chuyện thứ bảy.