Bản dịch
JA 355 — Chuyện Vương Tử Ghata (Tiền thân Ghata)
5. Ghaṭajātaka
736. “Những người khác sầu muộn, khóc lóc, những người khác có khuôn mặt đẫm nước mắt. Còn ông có vẻ mặt trầm tĩnh, này Ghata, tại sao ông không sầu muộn?”
737. “ Sầu muộn không đem lại việc đã qua, không mang đến hạnh phúc ở tương lai. Vì thế, này Dhaṃka, ta không sầu muộn; sầu muộn không phải là người bạn.
738. Trong khi sầu muộn thì trở nên vàng vọt, ốm o, đối với người này thức ăn không được ưa thích. Các kẻ thù trở nên mừng rỡ, là điều không được ưa thích đối với người bị mũi tên (sầu muộn) xuyên thủng.
739. (Sầu muộn) sẽ không xảy đến cho ta dầu ta ở làng hoặc ở rừng, dầu ta ở đất trũng hoặc ở đất bằng, điều căn bản đã được ta nhận thức như vậy.
740. Bản thân người nào, chỉ một mình, là không đủ khả năng để đem lại mọi hỷ lạc của thiền, thì toàn bộ trái đất cũng sẽ không mang đến hạnh phúc cho người ấy.”
5. Bổn Sanh Vua Ghata.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Nābbhatītaharo soko, nānāgatasukhāvaho;
Tasmā dhaṅka † na socāmi, natthi soke dutīyatā †.
Sorrow does not bring back past happiness, nor does it bring future happiness. Therefore, O Dhaṅka, I do not grieve. For sorrow, there is no companionship.
Này Dhaṅka, sầu muộn không mang lại được quá khứ, cũng không đem đến hạnh phúc trong tương lai. Do đó, ta không sầu muộn; sầu muộn không có lợi ích gì.
31.
31.
31.
Socaṃ paṇḍu kiso hoti, bhattañcassa na ruccati;
Amittā sumanā honti, sallaviddhassa ruppato.
355. Grieving, one becomes pale and thin, and food is not pleasing to him. Enemies are delighted for one who is afflicted, pierced by the dart of sorrow.
Người sầu muộn trở nên xanh xao, gầy mòn, và không còn thiết tha ăn uống. Kẻ thù sẽ vui mừng khi thấy người ấy đau khổ, như bị mũi tên sầu muộn đâm trúng.
32.
32.
32.
Gāme vā yadi vāraññe, ninne vā yadi vā thale;
Ṭhitaṃ maṃ nāgamissati, evaṃ diṭṭhapado ahaṃ.
Whether in a village or in a forest, whether in a valley or on high ground, that which is established will not come to me. Thus I am one who has seen the state.
Dù ở trong làng hay trong rừng, dù ở vùng trũng hay trên đất cao, (sự hủy hoại) sẽ không đến với ta. Ta là người đã thấy được chân lý.
33.
33.
33.
Yassattā nālamekova, sabbakāmarasāharo;
Sabbāpi pathavī tassa, na sukhaṃ āvahissatīti.
For one who has friends, not even one is able to bring the taste of all desires. Even the entire earth will not bring happiness to him.
Đối với người mà tự thân một mình không đủ để mang lại mọi dục lạc, thì dù có cả trái đất này cũng sẽ không mang lại hạnh phúc cho người ấy.
Ghaṭajātakaṃ pañcamaṃ.
The Ghaṭa Jātaka, the fifth.
Bổn sanh Ghaṭa, câu chuyện thứ năm.