Bản dịch
JA 354 — Chuyện Con Rắn (Tiền thân Uraga)
4. Uragajātaka
726. “Giống như con rắn từ bỏ lớp vỏ già cỗi, phần thân thể của mình, rồi ra đi, tương tự như thế ấy khi thân xác không còn lợi ích, khi là người đã ra đi, đã từ trần.
727. Người đang bị đốt cháy không hay biết việc than khóc của các thân quyến; do đó tôi không sầu muộn về việc này, người ấy đã đi đến cảnh giới dành cho người ấy.”
728. “Không được gọi, từ nơi kia nó đã đi đến; chưa được phép, từ nơi này nó đã ra đi. Nó đã đi đến như thế nào thì nó đã ra đi như thế ấy, trong trường hợp ấy sự than vãn có lợi ích gì?
729. Người đang bị đốt cháy không hay biết việc than khóc của các thân quyến; do đó tôi không sầu muộn về việc này, người ấy đã đi đến cảnh giới dành cho người ấy.”
730. “Nếu tôi khóc, tôi sẽ trở nên tiều tụy; trong trường hợp ấy liệu có được kết quả gì cho tôi? (Việc ấy) còn có thể làm tăng thêm sự ưu sầu cho quyến thuộc bạn bè thân hữu của chúng tôi.
731. Người đang bị đốt cháy không hay biết việc than khóc của các thân quyến; do đó tôi không sầu muộn về việc này, người ấy đã đi đến cảnh giới dành cho người ấy.”
732. “Cũng giống như đứa bé trai khóc lóc đòi mặt trăng đang di chuyển, người thương tiếc kẻ đã quá vãng có sự thành tựu y như vậy.
733. Người đang bị đốt cháy không hay biết việc than khóc của các thân quyến; do đó tôi không sầu muộn về việc này, người ấy đã đi đến cảnh giới dành cho người ấy.”
734. “Này người Bà-la-môn, cũng giống như lọ nước đã bị vỡ, không thể hàn gắn lại, người thương tiếc kẻ đã quá vãng có sự thành tựu y như vậy.
735. Người đang bị đốt cháy không hay biết việc than khóc của các thân quyến; do đó tôi không sầu muộn về việc này, người ấy đã đi đến cảnh giới dành cho người ấy.”
4. Bổn Sanh Con Rắn.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Uragova tacaṃ jiṇṇaṃ, hitvā gacchati santanuṃ;
Evaṃ sarīre nibbhoge, pete kālaṅkate sati.
Just as a snake, having abandoned its old skin, goes on with its body; so it is when a body is left behind, devoid of experience, departed, and deceased.
“Như con rắn lột bỏ lớp da cũ, rồi đi đến thân mới; cũng vậy, khi thân xác không còn hưởng thụ, đã chết, không còn sự sống.
86.
86.
86.
‘‘Ḍayhamāno na jānāti, ñātīnaṃ paridevitaṃ;
Tasmā etaṃ na rodāmi, gato so tassa yā gati’’.
Being burned, the body does not know the lamentation of its relatives; therefore, I do not weep for him. He has gone to that destination which is his.
“Thân xác bị thiêu không biết đến sự than khóc của thân quyến; vì vậy, tôi không khóc cho nó, nó đã đi đến cảnh giới của nó.”
87.
87.
87.
‘‘Anabbhito † tato āgā, nānuññāto ito gato;
Yathāgato tathā gato, tattha kā † paridevanā.
Uninvited he came from there, unpermitted he went from here; as he came, so he went. What lamentation can there be in that?
“Không được mời, nó đã đến từ đó; không được cho phép, nó đã đi từ đây. Nó đến thế nào, nó đi thế ấy; trong việc đó, than khóc có ích gì?
88.
88.
88.
‘‘Ḍayhamāno na jānāti, ñātīnaṃ paridevitaṃ;
Tasmā etaṃ na rodāmi, gato so tassa yā gati’’.
Being burned, the body does not know the lamentation of its relatives; therefore, I do not weep for him. He has gone to that destination which is his.
“Thân xác bị thiêu không biết đến sự than khóc của thân quyến; vì vậy, tôi không khóc cho nó, nó đã đi đến cảnh giới của nó.”
89.
89.
89.
‘‘Sace rode kisā assaṃ, tattha me kiṃ phalaṃ siyā;
Ñātimittasuhajjānaṃ, bhiyyo no aratī siyā.
If I were to weep, I would become thin; what fruit would there be in that for me? For our relatives, friends, and companions, there would be even more distress.
“Nếu tôi khóc, tôi sẽ trở nên gầy mòn, trong việc đó tôi được lợi ích gì? Đối với thân quyến, bạn bè, người thân của chúng ta, sẽ chỉ càng thêm không vui.
90.
90.
90.
‘‘Ḍayhamāno na jānāti, ñātīnaṃ paridevitaṃ;
Tasmā etaṃ na rodāmi, gato so tassa yā gati’’.
Being burned, the body does not know the lamentation of its relatives; therefore, I do not weep for him. He has gone to that destination which is his.
“Thân xác bị thiêu không biết đến sự than khóc của thân quyến; vì vậy, tôi không khóc cho nó, nó đã đi đến cảnh giới của nó.”
91.
91.
91.
‘‘Yathāpi dārako candaṃ, gacchantamanurodati;
Evaṃ sampadamevetaṃ, yo petamanusocati.
Just as a child cries for the moon as it moves across the sky, so too is it for one who grieves for the departed.
“Giống như đứa trẻ khóc đòi mặt trăng đang đi trên trời; cũng giống hệt như vậy là kẻ sầu muộn vì người đã chết.
92.
92.
92.
‘‘Ḍayhamāno na jānāti, ñātīnaṃ paridevitaṃ;
Tasmā etaṃ na rodāmi, gato so tassa yā gati’’.
Being burned, the body does not know the lamentation of its relatives; therefore, I do not weep for him. He has gone to that destination which is his.
“Thân xác bị thiêu không biết đến sự than khóc của thân quyến; vì vậy, tôi không khóc cho nó, nó đã đi đến cảnh giới của nó.”
93.
93.
93.
‘‘Yathāpi brahme udakumbho, bhinno appaṭisandhiyo;
Evaṃ sampadamevetaṃ, yo petamanusocati.
Just as, O brahmin, a water-pot, once broken, cannot be rejoined, so too is it for one who grieves for the departed.
“Này Bà-la-môn, giống như bình nước đã vỡ không thể hàn gắn lại; cũng giống hệt như vậy là kẻ sầu muộn vì người đã chết.
94.
94.
94.
‘‘Ḍayhamāno na jānāti, ñātīnaṃ paridevitaṃ;
Tasmā etaṃ na rodāmi, gato so tassa yā gatī’’ti.
“Being burned, he does not know the lamentation of his relatives; therefore, I do not weep for this one. He has gone to whatever destination was his.”
‘(Thân thể) bị thiêu đốt không biết được sự than khóc của quyến thuộc. Do đó, tôi không khóc về điều ấy. Người ấy đã đi đến cảnh giới nào thì đó là con đường của người ấy.’