Bản dịch
JA 353 — Chuyện Cành Cây Thanh Tịnh (Tiền thân Dhonasàkha)
3. Venasākhajātaka
721. “Này Brahmadatta, điều này không thể là mãi mãi, sự an toàn, sự dễ dàng về vật thực, và sự thoải mái ở cơ thể, khi đã hết thời kỳ tốt đẹp, chớ trở nên hốt hoảng, tựa như chiếc bè bị vỡ ở giữa biển khơi.
722. Người ta làm những điều gì thì nhìn thấy những điều ấy ở bản thân, người làm thiện nhìn thấy điều thiện, và người làm ác nhìn thấy điều ác, gieo hạt giống như thế nào thì mang lại kết quả như thế ấy.”
723. “Điều này là lời nói của thầy dạy học, thầy Pārāsariya đã nói điều ấy: ‘Con chớ làm việc ác, sau này con sẽ hối hận về việc ác đã làm ấy.’
724. Này Piṅgiya, chính là cây này, nó có cành cây tỏa rộng, ở nơi này ta đã giết chết một ngàn vị Sát-đế-lỵ, ở nơi này đã được trang hoàng, đã được bôi tinh dầu trầm hương, chính nỗi khổ đau ấy đã quay trở lại với ta.
725. Nàng có làn da màu vàng, có thân thể được bôi trầm hương, tựa như nhánh non của cây sobhañjana đã được vươn lên, ta sẽ qua đời không được nhìn thấy nàng Ubbarī, điều ấy sẽ làm cho ta đau khổ hơn là cái chết.”
3. Bổn Sanh Cành Cây Tỏa Rộng.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Nayidaṃ niccaṃ bhavitabbaṃ brahmadatta, khemaṃ subhikkhaṃ sukhatā ca kāye;
Atthaccaye mā ahu sampamūḷho, bhinnaplavo sāgarasseva majjhe.
353. O Prince Brahmadatta, this state of safety, this abundance, and this well-being in the body—all this should not be permanent. When sovereignty is lost, do not be bewildered, like one with a broken boat in the middle of the ocean.
Này Brahmadatta, sự an ổn, sung túc, và an lạc trong thân này không phải là thường hằng. Khi tai họa ập đến, chớ nên hoang mang, như người bị vỡ thuyền giữa biển khơi.
15.
15.
15.
Yāni karoti puriso, tāni attani passati;
Kalyāṇakārī kalyāṇaṃ, pāpakārī ca pāpakaṃ;
Yādisaṃ vapate bījaṃ, tādisaṃ harate phalaṃ.
Whatever deeds a man does, those he sees in himself. The doer of good sees good, and the doer of evil sees evil. Whatever kind of seed one sows, that kind of fruit one reaps.
Người ta làm những nghiệp nào, sẽ thấy (kết quả) của chúng nơi tự thân. Người làm lành thấy điều lành, và kẻ làm ác thấy điều ác. Gieo hạt giống nào, sẽ gặt quả ấy.
16.
16.
16.
Idaṃ tadācariyavaco, pārāsariyo yadabravi;
Mā su † tvaṃ akari pāpaṃ, yaṃ tvaṃ pacchā kataṃ tape.
This is the teacher's word, which the ancient teacher spoke to me: 'Do not do that evil which, having been done, would torment you afterwards.'
Đây là lời của bậc thầy, điều mà Pārāsariya đã nói: 'Ngươi chớ làm điều ác, việc mà sau khi đã làm sẽ khiến ngươi phải khổ não.'
17.
17.
17.
Ayameva so piṅgiya † venasākho, † yamhi ghātayiṃ khattiyānaṃ sahassaṃ;
Alaṅkate candanasārānulitte, tameva dukkhaṃ paccāgataṃ mamaṃ.
This very tree is that banyan with spreading branches, at which I killed a thousand kings, adorned and anointed with sandalwood essence. That very suffering has returned to me.
Này Piṅgiya, đây chính là cây Venasākha, nơi ta đã giết một ngàn vị Sát-đế-lỵ, những người được trang điểm và thoa dầu đàn hương. Chính nỗi đau khổ ấy nay đã quay trở lại với ta.
18.
18.
18.
Sāmā ca † kho candanalittagattā †, laṭṭhīva sobhañjanakassa uggatā;
Adisvā † kālaṃ karissāmi ubbariṃ, taṃ me ito dukkhataraṃ bhavissatīti.
My queen is indeed of golden complexion, her body anointed with sandalwood. She is beautiful, like an upward-growing branch of the drumstick tree. Not seeing that queen, I shall die. Not seeing her will be more painful for me than this death.
Và nàng Ubbari, với làn da màu lúa mì, thân thể thoa dầu đàn hương, đẹp như một chồi non vươn lên từ cây chùm ngây. Ta sẽ chết mà không được gặp nàng. Đối với ta, điều đó còn đau khổ hơn cả cái chết này.
Venasākhajātakaṃ † tatiyaṃ.
The Venasākha Jātaka, the third.
Chuyện Bổn Sanh Venasākha, phần thứ ba.