Bản dịch
JA 352 — Chuyện Chàng Sujàta (Tiền thân Sujàta)
2. Sujātajātaka
713. “Tại sao con lại phải vội vàng đi cắt cỏ xanh tươi và nói lảm nhảm với con bò già có mạng sống đã lìa rằng: ‘Hãy ăn đi, hãy ăn đi.’
714. Bởi vì con bò đã chết không thể nào sống lại nhờ vào cơm ăn nước uống. Và con nói lảm nhảm một cách vô ích như là kẻ điên khùng.”
715. “Đầu, các chân trước sau, và đuôi tồn tại y như thế, hai lỗ tai tồn tại y như thế, con nghĩ rằng con bò có thể sống lại được.
716. Cái đầu hay các tay chân của ông nội không còn được nhìn thấy, trong khi khóc lóc ở tháp thờ bằng đất sét, có lẽ cha mới là điên khùng?”
717. “Quả thật, trong khi ta đang bị thiêu đốt tựa như ngọn lửa được rưới bơ lỏng, con có thể dập tắt tất cả nỗi buồn bực như là đang rưới nước xuống.
718. Khi ta bị sầu muộn chế ngự, người nào đã xua đi nỗi sầu muộn về người cha của ta, người ấy quả thật đã rút ra mũi tên sầu muộn đã cắm vào trái tim của ta.
719. Ta đây, có mũi tên đã được rút ra, có sự sầu muộn đã được xa lìa, không bị vẩn đục. Này người thanh niên, sau khi lắng nghe con, ta không sầu muộn, không khóc lóc.
720. Những vị có trí tuệ hành động như vậy, họ là những người có lòng bi mẫn, họ giúp cho vượt qua nỗi sầu muộn, giống như Sujāta đã giúp cho người cha.”
2. Bổn Sanh Thanh Niên Sujāta.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Kiṃ nu ummattarūpova, lāyitvā haritaṃ tiṇaṃ;
Khāda khādāti lapasi, gatasattaṃ jaraggavaṃ.
Why, like one who is mad, having cut green grass, do you keep saying, ‘Eat, eat,’ to this old, lifeless ox?
Tại sao con lại giống như người mất trí, cắt cỏ xanh rồi than khóc ‘Ăn đi, ăn đi’ với con bò già đã chết?
47.
47.
47.
‘‘Na hi annena pānena, mato goṇo samuṭṭhahe;
Tvaṃsi bālo ca † dummedho, yathā taññova dummatī’’ti.
8. Indeed, a dead ox will not rise up because of food or drink. You are a fool and witless, just like any other foolish person who laments thus.
Con bò đã chết không thể nào sống dậy vì thức ăn hay nước uống. Con thật là kẻ khờ dại và ngu muội, giống như những kẻ thiếu trí tuệ khác.
48.
48.
48.
‘‘Ime pādā idaṃ sīsaṃ, ayaṃ kāyo savāladhi;
Nettā tatheva tiṭṭhanti, ayaṃ goṇo samuṭṭhahe.
These feet, this head, this body with its tail, and these eyes remain just as they were. For this reason, this ox should rise up.
Những cái chân này, cái đầu này, thân mình này cùng với cái đuôi, đôi mắt vẫn còn y nguyên như thế. Con bò này hẳn phải sống dậy.
49.
49.
49.
‘‘Nāyyakassa hatthapādā, kāyo sīsañca dissati;
Rudaṃ mattikathūpasmiṃ, nanu tvaññeva dummatī’’ti.
My grandfather's hands and feet, body, and head are not to be seen. Yet you weep over a mound of earth. Are you not, then, the foolish one?
Tay chân, thân mình và đầu của ông nội không còn thấy đâu. Cha khóc than bên một nấm đất, há chẳng phải chính cha mới là người ngu muội sao?
50.
50.
50.
‘‘Ādittaṃ vata maṃ santaṃ, ghatasittaṃva pāvakaṃ;
Vārinā viya osiñcaṃ, sabbaṃ nibbāpaye daraṃ.
Truly, I was burning like a fire sprinkled with ghee. As if sprinkling it with water, you have extinguished all my anguish.
Con đã dập tắt tất cả nỗi thống khổ của ta, đang bừng cháy như ngọn lửa được tưới thêm dầu, giống như người ta dùng nước để dập tắt lửa.
51.
51.
51.
‘‘Abbahī † vata me sallaṃ, sokaṃ hadayanissitaṃ;
Yo me sokaparetassa, pitusokaṃ apānudi.
You who have removed the paternal sorrow from me, one overcome by grief, have indeed pulled out the dart of sorrow that was lodged in my heart.
Con thật đã nhổ đi mũi tên sầu muộn cắm trong tim ta, con là người đã xua tan nỗi sầu khổ vì cha của ta, kẻ đang bị sầu muộn giày vò.
52.
52.
52.
‘‘Svāhaṃ abbūḷhasallosmi, sītibhūtosmi nibbuto;
Na socāmi na rodāmi, tava sutvāna māṇava’.
Having heard you, young man, I am one whose dart has been removed. I have become cool and am at peace. I do not grieve, nor do I weep.
Ta đã được nhổ mũi tên sầu muộn, đã trở nên mát mẻ, đã được dập tắt. Hỡi chàng trai trẻ, sau khi nghe lời con, ta không còn sầu muộn, không còn khóc than nữa.
53.
53.
53.
Evaṃ karonti sappaññā, ye honti anukampakā;
Vinivattayanti sokamhā, sujāto pitaraṃ yathāti.
Thus do the wise who are compassionate act: they turn others away from sorrow, just as Sujāta did for his father.
Những người hiền trí có lòng bi mẫn thường làm như vậy. Họ giúp người khác thoát khỏi sầu muộn, giống như Sujāta đã làm cho cha mình.