Bản dịch
JA 351 — Chuyện Vòng Tay Bằng Ngọc (Tiền thân Manikundala)
1. Maṇikuṇḍalajātaka
708. “Bị tước đoạt cỗ xe, ngựa, và các bông tai ngọc ma-ni, tương tự y như thể, bị tước đoạt các con và những người vợ, khi tất cả các của cải không còn tồn tại, vì sao ngài không bực bội vào thời điểm sầu muộn?”
709. “Các của cải lìa bỏ con người trước tiên, hoặc là con người từ bỏ chúng trước hết, này kẻ ước ao dục vọng, là tính chất không trường tồn của tài sản, vì thế ta không bực bội vào thời điểm sầu muộn.
710. Mặt trăng mọc lên, tròn dần, rồi khuyết, mặt trời sau khi đốt nóng bầu trời rồi rút lui, này kẻ thù địch, các pháp thế gian đã được ta nhận biết, vì thế ta không bực bội vào thời điểm sầu muộn.
711. Người tại gia biếng nhác có sự thọ hưởng các dục, là không tốt, bậc xuất gia không tự chế ngự, là không tốt, vị vua có hành động không cân nhắc, là không tốt, người sáng suốt có sự phẫn nộ, việc ấy là không tốt.
712. Vị Sát-đế-lỵ nên hành động sau khi cân nhắc. Bậc chúa tể không thể không cân nhắc. Đối với vị vua có hành động đã được cân nhắc, danh vọng và tiếng tăm tăng trưởng.”
1. Bổn Sanh Bông Tai Ngọc Ma-ni.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Jīno † rathassaṃ † maṇikuṇḍale ca, putte ca dāre ca tatheva jīno;
Sabbesu bhogesu asevitesu, kasmā na santappasi sokakāle.
“The chariot is lost, and the jeweled earrings; sons and wife are likewise lost. With all possessions not being enjoyed, why do you not grieve in this time of sorrow?”
‘Bị mất cỗ xe và đôi bông tai ngọc, bị mất cả con trai và vợ cũng vậy; Khi tất cả tài sản không được sử dụng, tại sao ngài không phiền muộn trong lúc sầu lo?’
‘‘Pubbeva maccaṃ vijahanti bhogā, macco dhane pubbataraṃ jahāsi;
Asassatā † bhāvino kāmakāmī, tasmā na socāmahaṃ sokakāle.
“Possessions abandon a mortal first, or a mortal abandons possessions even earlier. O desirer of sensual pleasures, possessions are impermanent; therefore, I do not grieve in a time of sorrow.”
‘Hoặc tài sản từ bỏ người trước, hoặc người từ bỏ của cải trước hơn; Hỡi người tham muốn dục lạc, các vật sở hữu vốn không thường hằng, vì thế ta không sầu muộn trong lúc sầu lo.’
‘‘Udeti āpūrati veti cando, andhaṃ tapetvāna † paleti sūriyo;
Viditā mayā sattuka lokadhammā, tasmā na socāmahaṃ sokakāle’’ti.
“The moon rises, becomes full, and wanes; the sun, having shone, disappears. The eight worldly conditions are known by me, O Satthuka; therefore, I do not grieve in a time of sorrow.”
‘Mặt trăng mọc lên, tròn đầy rồi lại khuyết, mặt trời sau khi chiếu rọi rồi cũng lặn đi; Hỡi Sattuka, ta đã biết rõ các pháp thế gian, vì thế ta không sầu muộn trong lúc sầu lo.’