Bản dịch
JA 350 — Chuyện Vấn Đáp Của Chư Thi ên (Tiền thân Devatàpanhã)
10. Devatāpañhajātaka
704. “Gã ấy đánh bằng những cánh tay, bằng những bàn chân, và gã ấy đấm vào mặt. Tâu bệ hạ, gã ấy quả thật đáng yêu; bệ hạ xem có ai đáng yêu hơn gã ấy?”
705. “Người sỉ vả gã ấy tùy theo ý thích, nhưng người lại mong muốn sự quay về của gã ấy. Tâu bệ hạ, gã ấy quả thật đáng yêu; bệ hạ xem có ai đáng yêu hơn gã ấy?”
706. “Người trách móc gã ấy với việc không có thật, người buộc tội với chuyện giả dối. Tâu bệ hạ, gã ấy quả thật đáng yêu; bệ hạ xem có ai đáng yêu hơn gã ấy?”
707. “Trong khi lấy mang đi cơm, nước, y phục, và chỗ trú ngụ, thật vậy, những người lấy mang đi là những người tốt. Tâu bệ hạ, những người ấy quả thật đáng yêu; bệ hạ xem có những ai đáng yêu hơn những người ấy?”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Hanti hatthehi pādehi, mukhañca parisumbhati;
Sa ve rāja piyo hoti, kaṃ tena tvābhipassasi †.
O king, one who strikes with hands and feet, and also strikes the face; he, indeed, is dear. For that reason, whom do you see as dear?
Nó đánh bằng tay, bằng chân, và nó đấm vào mặt; Tâu Đại vương, nó quả thật là người thân yêu. Qua đó, ngài thấy đó là ai?
198.
198.
198.
Akkosati yathākāmaṃ, āgamañcassa icchati;
Sa ve rāja piyo hoti, kaṃ tena tvābhipassasi.
O king, one who abuses another as he pleases, and yet desires his coming; he, indeed, is dear. For that reason, whom do you see as dear?
Nó mắng nhiếc tùy thích, và nó mong muốn sự trở lại của người kia; Tâu Đại vương, nó quả thật là người thân yêu. Qua đó, ngài thấy đó là ai?
199.
199.
199.
Abbhakkhāti abhūtena, alikenābhisāraye;
Sa ve rāja piyo hoti, kaṃ tena tvābhipassasi.
O king, one who accuses with falsehood, and causes one to be reminded with untruth; he, indeed, is dear. For that reason, whom do you see as dear?
Nó vu khống bằng điều không thật, nó buộc tội bằng lời dối trá; Tâu Đại vương, nó quả thật là người thân yêu. Qua đó, ngài thấy đó là ai?
200.
200.
200.
Haraṃ annañca pānañca, vatthasenāsanāni ca;
Aññadatthuharā santā, te ve rāja piyā honti;
Kaṃ tena tvābhipassasīti.
O king, those who take away food and drink, clothing and lodging—though they are indeed takers, they are dear. For that reason, whom do you see as dear?
Mang đi thức ăn, thức uống, y phục và chỗ ở; Quả thật, những người khác là những kẻ mang đi, tâu Đại vương, họ quả thật là những người thân yêu. Qua đó, ngài thấy đó là ai?
Devatāpañhajātakaṃ dasamaṃ.
The Devatāpañha Jātaka, the tenth.
Chuyện Bổn Sanh Devatāpañha, thứ mười.
Cūḷakuṇālavaggo pañcamo.
The Cūḷakuṇāla Chapter, the fifth.
Phẩm Cūḷakuṇāla, thứ năm.
Tassuddānaṃ –
The summary of that chapter:
Kệ tóm tắt của phẩm ấy:
Narānaṃ asakkhivasimhavaro, nīliyamaggivarañca puna;
Puna rasāyasakūṭavaro, tathārañña sārathi hanti dasāti.
The Kinnarī or Vānara Jātaka, the Kuntinī Jātaka, the Amba Jātaka, again the Rājakumbha Jātaka, again the Kesī and Ayakūṭa Jātakas, likewise the Arañña, Sandhibheda, and Devatāpañha Jātakas: these are the ten.
Narāna, Asakkhi, Vasimhavara, Nīliya, và lại Aggivara; Lại Rasāyasa, Kūṭavara, cũng vậy Arañña, Sārathi, Hanti, là mười chuyện.
Atha vagguddānaṃ –
Now, the summary of the chapters:
Sau đây là kệ tóm tắt các phẩm:
Kāliṅgaṃ † pucimandañca, kuṭidūsaka kokilā †;
Cūḷakuṇālavaggo so, pañcamo suppakāsitoti.
The Kaliṅga Chapter, the Pucimanda Chapter, the Kuṭidūsaka Chapter, the Kokālika Chapter, and that fifth, the Cūḷakuṇāla Chapter—these have been well expounded.
(Phẩm) Kāliṅga, Pucimanda, Kuṭidūsaka, Kokilā; và phẩm Cūḷakuṇāla ấy là thứ năm, đã được khéo giảng giải.
The Nipāta of Fours is concluded.
Dứt Thiên Bốn Pháp.