Bản dịch
JA 348 — Chuyện Chốn Rừng Hoang (Tiền thân Aranna)
8. Araññajātaka
696. “Thưa cha, sau khi từ rừng đi vào làng, con nên phục vụ người có giới thế nào, có phận sự thế nào? Được hỏi, xin cha hãy nói về điều ấy cho con.”
697. “Này con, người nào tin tưởng con và đạt được sự tin tưởng của con, có sự lắng nghe và có sự nhẫn nhịn, con hãy thân cận người ấy khi con ra đi khỏi nơi này.
698. Người nào không có việc làm sái quấy bằng thân, bằng khẩu, và bằng ý, con hãy thân cận người ấy khi con ra đi khỏi nơi này, tựa như (đứa bé trai) nằm yên ở trên ngực (người cha).
699. Này con, với người có tâm không chắc chắn, như màu của củ nghệ, như tâm của loài khỉ, mau chóng thay đổi, con chớ phục vụ người như thế ấy, dẫu cho không có người nào khác.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Araññā gāmamāgamma, kiṃsīlaṃ kiṃvataṃ ahaṃ;
Purisaṃ tāta seveyyaṃ, taṃ me akkhāhi pucchito.
O father, having come from the forest to a village, what kind of person, possessing what virtue and what observance, should I associate with? Being asked, please tell me that matter.
Thưa cha, từ rừng trở về làng, con nên thân cận với người có giới hạnh và hạnh nguyện như thế nào? Khi được hỏi, xin cha hãy chỉ dạy cho con.
80.
80.
80.
Yo te † vissāsaye tāta, vissāsañca khameyya te;
Sussūsī ca titikkhī ca, taṃ bhajehi ito gato.
O dear son, whoever inspires your trust and would approve of your trust, who is eager to listen and is patient—you, having gone from here, should associate with that person.
Này con, người nào tạo được lòng tin nơi con, và cũng chấp nhận lòng tin của con, người hay lắng nghe và kham nhẫn, khi rời khỏi đây, con hãy thân cận với người ấy.
81.
81.
81.
Yassa kāyena vācāya, manasā natthi dukkaṭaṃ;
Urasīva patiṭṭhāya, taṃ bhajehi ito gato.
O dear son, for whom there is no wrongdoing by body, speech, or mind—you, having gone from here, should associate with that person, considering him as you would your mother.
Người nào không có hành vi sai trái qua thân, khẩu, ý, khi rời khỏi đây, con hãy thân cận với người ấy, xem người ấy như con nương tựa vào lòng mẹ.
82.
82.
82.
Yo ca dhammena carati, carantopi na maññati;
Visuddhakāriṃ sappaññaṃ, taṃ bhajehi ito gato.
One who lives righteously, but in doing so is not conceited; one of pure deeds, endowed with wisdom—associate with him when you have gone from here.
Người nào sống theo Chánh pháp, và dù sống như vậy cũng không kiêu mạn, người có hành vi trong sạch và có trí tuệ, khi rời khỏi đây, con hãy thân cận với người ấy.
83.
83.
83.
Haliddirāgaṃ kapicittaṃ, purisaṃ rāgavirāginaṃ;
Tādisaṃ tāta mā sevi, nimmanussampi ce siyā.
O dear son, a person whose affection is like turmeric dye, who has a mind like a monkey, who is easily attached and easily detached—do not associate with such a person, even if Jambudīpa were devoid of people.
Này con, người có lòng ham muốn như thuốc nhuộm bằng nghệ, có tâm trí như con khỉ, người dễ yêu dễ ghét, con đừng thân cận với người như vậy, dù cho thế gian này không còn người nào khác.