Bản dịch
JA 343 — Chuyện Con Hạc (Tiền thân Cuntani)
3. Kuntinījātaka
676. “Tôi đã sống ở nhà của bệ hạ, thường xuyên được tôn vinh trân trọng. Và giờ đây, chính bệ hạ đã làm quấy. Tâu bệ hạ, vậy tôi phải ra đi.”
677. “Thật vậy, người nào, khi tội ác đã được gây ra, và hành động báo thù đã được đáp trả; như vậy, hận thù ấy đã được lặng yên, này chim dẽ cái, hãy ở lại, chớ bỏ đi.”
678. “Tình thân hữu giữa người bị hại và kẻ gây hại không thể kết nối lại được nữa. Tôi không thể mềm lòng, tâu đấng thủ lãnh xa binh, tôi nhất định ra đi.”
679. “Tình thân hữu giữa người bị hại và kẻ gây hại có thể kết nối lại được giữa các bậc sáng trí, và không thể giữa những kẻ ngu si; này chim dẽ cái, hãy ở lại, chớ bỏ đi.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Avasimha tavāgāre, niccaṃ sakkatapūjitā;
Tvameva dānimakari, handa rāja vajāmahaṃ.
We lived in your house, always honored and revered. Now you yourself have caused this displeasure. Well then, O king, I shall go.
Chúng tôi đã sống trong nhà của ngài, luôn được tôn trọng và cúng dường. Nay chính ngài đã gây ra (sự ưu phiền cho tôi). Này, tâu Đại vương, tôi xin đi.
170.
170.
170.
Yo ve kate paṭikate, kibbise paṭikibbise;
Evaṃ taṃ sammatī veraṃ, vasa kuntini māgamā.
Indeed, when a deed has been met with a counter-deed, and an offense with a counter-offense, thus that enmity is appeased. Stay, O Kuntinī, do not go.
Quả thật, khi một việc ác đã được làm, và một việc ác được làm đáp trả; khi một việc tàn ác (được làm), và một việc tàn ác được làm đáp trả, như vậy oán thù ấy được lắng dịu. Này Kuntinī, hãy ở lại, đừng đi.
171.
171.
171.
Na katassa ca kattā ca, metti † sandhīyate puna;
Hadayaṃ nānujānāti, gacchaññeva rathesabha.
Between the one who has been wronged and the wrongdoer, friendship is not renewed. The heart does not consent; I shall surely go, O lord of chariots.
Giữa người bị hại và người gây hại, tình bằng hữu không thể được hàn gắn lại. Trái tim của tôi không chấp thuận (điều đó). Tâu đấng xa vương, tôi chắc chắn sẽ đi.
172.
172.
172.
Katassa ceva kattā ca, metti sandhīyate puna;
Dhīrānaṃ no ca bālānaṃ, vasa kuntini māgamāti.
Between the one who has been wronged and the wrongdoer, friendship is renewed—for the wise, but not for the foolish. Stay, O Kuntinī, do not go.
Giữa người bị hại và người gây hại, tình bằng hữu được hàn gắn lại đối với bậc hiền trí, chứ không phải đối với kẻ ngu. Này Kuntinī, hãy ở lại, đừng đi.
Kuntinījātakaṃ tatiyaṃ.
The Kuntinī Jātaka, the third, is concluded.
Chuyện Bổn sanh Kuntinī, câu chuyện thứ ba.