Bản dịch
JA 333 — Chuyện Con Tắc Kè (Tiền thân Godha)
3. Pakkagodhajātaka
636. “Tâu đấng thủ lãnh xa binh, chính vào lúc ấy, ở giữa cánh rừng, thiếp đã hiểu được bệ hạ. Vào lúc bệ hạ đây mặc áo vỏ cây đã được nai nịt, đã buộc chặt gươm, thế mà từ nơi cành cây sung, con kỳ đà được nướng chín đã tẩu thoát.”
637. “Nên cúi chào lại người đang cúi chào, nên cộng sự với người đang cộng sự, nên thực hành phận sự đối với người đang thực hành phận sự, không nên làm điều lợi ích đến người không mong mỏi điều lợi ích, không nên gắn bó với người không gắn bó.
638. Nên từ bỏ người đang từ bỏ ta, không nên thể hiện sự yêu thương, không nên gắn bó với người có tâm hờ hững. Con chim, sau khi biết cây đã hết trái, thì tìm kiếm cây khác, bởi vì thế gian là rộng lớn.”
639. “Này nữ Sát-đế-lỵ, trong khi xem xét lòng biết ơn, trẫm đây sẽ làm cho nàng theo như năng lực của trẫm. Và trẫm ban cho nàng tất cả quyền uy, nàng ước muốn điều gì, trẫm ban cho nàng điều ấy.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Tadeva me tvaṃ vidito, vanamajjhe rathesabha;
Yassa te khaggabaddhassa, sannaddhassa tirīṭino;
Assatthadumasākhāya, pakkā godhā palāyatha.
O bull among chariots, by that very thing you are known to me in the middle of the forest: from you, girt with a sword, clad in armor, and wearing a diadem, a roasted iguana fled from the branch of an Assattha tree.
Hỡi bậc Xa vương, ngay lúc ấy ở giữa rừng, ta đã biết ngươi rồi, kẻ mang gươm, mặc giáp, đội mũ vỏ cây, mà con kỳ đà nướng đã chạy mất từ cành cây bồ đề.
130.
130.
130.
Name namantassa bhaje bhajantaṃ, kiccānukubbassa kareyya kiccaṃ;
Nānatthakāmassa kareyya atthaṃ, asambhajantampi na sambhajeyya.
One should bow to one who bows; one should attend to one who attends. One should do one's duty for one who does one's duties. One should not act for the benefit of one who desires one's harm. One should not associate with one who does not associate.
Nên cúi mình trước người cúi mình, nên thân cận người thân cận mình. Nên làm việc cho người làm việc cho mình. Không nên làm lợi ích cho người không muốn lợi ích cho mình, cũng không nên giao du với người không giao du với mình.
131.
131.
131.
Caje cajantaṃ vanathaṃ na kayirā, apetacittena na sambhajeyya;
Dijo dumaṃ khīṇaphalanti † ñatvā, aññaṃ samekkheyya mahā hi loko.
One should abandon one who abandons and not create longing. One should not associate with a person of estranged mind. A bird, knowing a tree is devoid of fruit, should look for another; for the world is vast indeed.
Nên từ bỏ người từ bỏ mình, không nên luyến ái. Không nên giao du với người có tâm đã lìa bỏ. Như chim, khi biết cây đã hết quả, nên tìm đến cây khác, vì thế gian này rộng lớn.
132.
132.
132.
So te karissāmi yathānubhāvaṃ, kataññutaṃ khattiye † pekkhamāno;
Sabbañca te issariyaṃ dadāmi, yassicchasī tassa tuvaṃ dadāmīti.
I, a noble, considering gratitude, will act for you according to my power. I give you all sovereignty, and I give you whatever you wish.
Là một Sát-đế-lỵ, ta xem trọng lòng biết ơn, ta sẽ làm cho nàng tùy theo khả năng của ta. Ta ban cho nàng tất cả quyền uy, và ta sẽ ban cho nàng bất cứ điều gì nàng mong muốn.
Pakkagodhajātakaṃ † tatiyaṃ.
The Pakkagodha Jātaka, the Third.
Bổn sanh Kỳ Đà Nướng, chuyện thứ ba.