Bản dịch
JA 329 — Chuyện Con Khỉ Đen Lớn (Tiềnthân K àlabàhu)
9. Kāḷabāhujātaka
620. “Phần cơm nước của vua mà chúng ta nhận được trước đây, phần ấy giờ đây giao cho chỉ mỗi con khỉ. Này Rādha, giờ đây chúng ta hãy đi vào rừng thôi, chúng ta không có khả năng trong việc chiến thắng tài sản.”
621. “Lợi lộc, không lợi lộc, không danh tiếng, và có danh tiếng, sự chê bai, và sự ca ngợi, hạnh phúc, và khổ đau, các pháp này là không bền vững ở con người, chớ sầu muộn, này Poṭṭhapāda, em sầu muộn việc gì?”
622. “Này Rādha, hiển nhiên anh là người sáng suốt, anh biết được các sự việc còn chưa xảy ra. Làm thế nào chúng ta sẽ nhìn thấy được con khỉ đáng khinh bỉ bị tống ra khỏi hoàng cung?”
623. “Nó nhúc nhích lỗ tai, nó làm mặt nhăn nhó, nó mau chóng làm cho các vương tử sợ hãi, Kāḷabāhu sẽ tự chính mình làm điều ấy, vì thế, nó sẽ sống xa lìa phần cơm nước.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Yaṃ annapānassa pure labhāma, taṃ dāni sākhamigameva gacchati;
Gacchāma dāni vanameva rādha, asakkatā casma dhanañjayāya †.
The food and drink that we formerly received, now goes only to the monkey. Let us now go to the forest, Rādha; we are unhonored by Dhanañjaya.
Vật thực và thức uống nào mà trước đây chúng ta đã nhận được, bây giờ vật ấy đã đến với con khỉ. Này anh Rādha, bây giờ chúng ta hãy đi vào rừng thôi, vì chúng ta không được vua Dhanañjaya tôn trọng.
114.
114.
114.
Lābho alābho yaso ayaso ca, nindā pasaṃsā ca sukhañca dukkhaṃ;
Ete aniccā manujesu dhammā, mā soci kiṃ socasi poṭṭhapāda.
Gain and loss, fame and disrepute, blame and praise, and pleasure and pain—these conditions are impermanent among humans. Do not grieve, Poṭṭhapāda; why do you grieve?
Được và mất, danh và không danh, chê và khen, và lạc và khổ; những pháp này ở giữa loài người là vô thường. Này Poṭṭhapāda, đừng sầu muộn, sao lại sầu muộn?
115.
115.
115.
Addhā tuvaṃ paṇḍitakosi rādha, jānāsi atthāni anāgatāni;
Kathaṃ nu sākhāmigaṃ dakkhisāma †, niddhāvitaṃ † rājakulatova jammaṃ.
Truly, you are wise, Rādha; you know of matters yet to come. How then shall we see that base monkey driven out from the royal household?
Này anh Rādha, chắc chắn anh là người có trí tuệ, anh biết được những lợi ích chưa đến. Làm thế nào chúng ta sẽ thấy được con khỉ đê tiện bị đuổi ra khỏi hoàng tộc?
116.
116.
116.
Cāleti kaṇṇaṃ bhakuṭiṃ karoti, muhuṃ muhuṃ bhāyayate † kumāre;
Sayameva taṃ kāhati kāḷabāhu, yenārakā ṭhassati annapānāti.
He moves his ear and makes a frown; again and again he frightens the young princes. Kāḷabāhu himself will bring about that by which he will be kept far from food and drink.
Nó vẫy tai, nó cau mày, nó dọa nạt các hoàng tử luôn luôn. Chính con khỉ Kāḷabāhu sẽ tự làm điều đó, do nhân ấy nó sẽ phải đứng xa các vật thực và thức uống.
Kāḷabāhujātakaṃ navamaṃ.
The Kāḷabāhu Jātaka, the ninth.
Chuyện Bổn Sanh Kāḷabāhu là thứ chín.