Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
JA 326

Bản dịch

JA 326Chuyện Thiên Hoa Kakkàru (Tiền thân Kakkàru)

6. Kakkārujātaka

608. “Người nào không trộm cắp bằng thân, không nói lời dối trá bằng khẩu, sau khi đạt được danh vọng không bị say đắm, người ấy thật sự xứng đáng hoa kakkāru (của cõi Trời).”

609. “Người nào tầm cầu của cải một cách chân chánh, không lấy đi tài sản bằng cách lường gạt, sau khi đạt được các vật sở hữu không bị say đắm, người ấy thật sự xứng đáng hoa kakkāru (của cõi Trời).”

610. “Người nào có tâm không thay đổi và đức tin không bị phai nhạt, một người không thọ dụng thức ăn ngon ngọt, người ấy thật sự xứng đáng hoa kakkāru (của cõi Trời).”

611. “Người nào không mắng nhiếc những người tốt, có mặt hay vắng mặt, là người nói như thế nào thì làm như thế ấy, người ấy thật sự xứng đáng hoa kakkāru (của cõi Trời).”