Bản dịch
JA 323 — Chuyện Vua Brahmadatta (Tiền thân Brahmadatta)
3. Brahmadattajātaka
596. “Tâu đức vua Brahmadatta, người cầu xin trải qua hai trường hợp: không nhận được hoặc nhận được tài sản, bởi vì việc cầu xin có bản chất như thế.
597. Tâu đấng thủ lãnh xa binh của xứ Pañcāla, người đời đã nói sự cầu xin có sự khóc lóc, và người nào từ chối sự cầu xin, người ấy có sự khóc lóc đáp trả.
598. Chớ để những người xứ Pañcāla đã đến đông đủ nhìn thấy thần đang khóc lóc, hoặc bệ hạ đang khóc lóc đáp trả; vì thế, thần muốn được kín đáo.”
599. “Này Bà-la-môn, trẫm ban cho khanh một ngàn bò cái màu hung đỏ với một con bò mộng. Bởi vì là người thánh thiện, tại sao trẫm lại không ban tặng cho người thánh thiện, sau khi đã lắng nghe các kệ ngôn gắn liền với lý lẽ của khanh?”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Yācanaṃ rodanaṃ āhu, pañcālānaṃ rathesabha;
Yo yācanaṃ paccakkhāti, tamāhu paṭirodanaṃ.
Petitioning, they say, is weeping, O bull among the charioteers of the Pañcālas. He who refuses a petition, they say, is weeping in return.
“Hỡi bậc xa vương của xứ Pañcāla, họ nói việc xin xỏ là sự khóc lóc. Người nào từ chối việc xin xỏ, họ gọi đó là sự khóc đáp lại.”
91.
91.
91.
Mā maddasaṃsu rodantaṃ, pañcālā susamāgatā;
Tuvaṃ vā paṭirodantaṃ, tasmā icchāmahaṃ raho.
May the well-assembled Pañcālas not see me weeping, nor you weeping in return by refusing me. Therefore, I desire to be in private.
“Mong rằng những người Pañcāla đã hội họp đông đủ đừng thấy tôi đang khóc, hoặc ngài đang khóc đáp lại. Do đó, tôi mong muốn (gặp ngài ở) nơi riêng tư.”
92.
92.
92.
Dadāmi te brāhmaṇa rohiṇīnaṃ, gavaṃ sahassaṃ saha puṅgavena;
Ariyo hi ariyassa kathaṃ na dajjā †, sutvāna gāthā tava dhammayuttāti.
I give to you, O brahmin, a thousand red cows, together with a bull. For how could a noble one not give to a noble one, having heard your verses that are in accord with the Dhamma?
“Hỡi Bà-la-môn, ta cho ông một ngàn con bò cái tơ cùng với một con bò đực. Quả thật, sau khi đã nghe những câu kệ hợp với chánh pháp của ông, làm sao một bậc cao thượng lại không cho một bậc cao thượng?”
Brahmadattajātakaṃ tatiyaṃ.
The Brahmadatta Jātaka, the third.
Chuyện Bổn sanh Brahmadatta là thứ ba.