Bản dịch
JA 322 — Chuyện Tiếng Động Mạnh (Tiền thân Daddabha)
2. Duddubhajātaka
592. “Thưa đức ông, có tiếng động ầm ầm ở khu vực tôi sống. Tôi cũng không biết gì về việc ấy, cái gì gây nên tiếng động ầm ầm ấy?”
593. “Sau khi nghe trái cây beluva rơi xuống gây tiếng động ầm ầm, con thỏ đã phóng chạy. Sau khi nghe lời con thỏ, bầy thú rừng bị hoảng hốt.
594. Chưa đạt đến sự nhận biết căn bản, chúng có sự thuận theo lời nói của người khác; những kẻ ngu si nổi bật ở sự xao lãng, chúng có sự dựa dẫm vào người khác.
595. Và những vị nào được thành tựu về giới, được vui thích ở tuệ và sự an tịnh, là các bậc sáng trí đã lìa khỏi, đã lánh xa (ác pháp), (những vị ấy) không có sự dựa dẫm vào người khác.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Beluvaṃ patitaṃ sutvā, duddubhanti † saso javi;
Sasassa vacanaṃ sutvā, santattā migavāhinī.
Hearing a ripe wood-apple fruit fall with a 'duddubha' sound, the hare fled. Hearing the hare's words, the herd of animals fled in terror.
Nghe tiếng trái bael rơi, con thỏ đã chạy trốn, nghĩ rằng 'duddubha'. Nghe lời của con thỏ, bầy thú hoảng sợ (cũng chạy trốn).
87.
87.
87.
Appatvā padaviññāṇaṃ, paraghosānusārino;
Panādaparamā bālā, te honti parapattiyā.
Not having attained direct knowledge of the path, fools follow the cries of others. Taking the shouts of others as supreme, they are led by faith in others.
“Những kẻ ngu không đạt đến sự hiểu biết về chân lý, chỉ đi theo tiếng nói của người khác, lấy sự chạy trốn làm chính, họ trở thành những người tin theo người khác.”
88.
88.
88.
Ye ca sīlena sampannā, paññāyūpasame ratā;
Ārakā viratā dhīrā, na honti parapattiyāti.
But those who are endowed with virtue, delighting in wisdom and the calming of defilements, the wise who are aloof and abstinent, are not led by faith in others.
“Còn những bậc trí đầy đủ giới hạnh, hoan hỷ trong trí tuệ và sự tịch tịnh, xa lánh và từ bỏ (điều ác), họ không trở thành những người tin theo người khác.”
Duddubhajātakaṃ † dutiyaṃ.
The Duddubha Jātaka, the second.
Chuyện Bổn Sanh Duddubha, thứ hai.