Bản dịch
JA 320 — Chuyện Dễ Cho (Tiền thân Succaja)
10. Succajajātaka
584. “Quả thật, vua đã không thí bỏ vật dễ thí bỏ, trong khi không ban cho ngọn núi bằng lời nói. Kẻ đã không ban cho ngọn núi bằng lời nói, kẻ ấy còn có thể xả bỏ cái gì?”
585. “Có thể làm điều gì thì nên nói điều ấy, không thể làm điều gì thì không nên nói điều ấy. Các bậc sáng suốt biết rõ người nói mà không làm.”
586. “Tâu thái tử, xin kính lễ ngài. Ngài quả đã đứng vững ở pháp chân thật. Đã bị lâm vào cảnh bất hạnh, tâm ý của ngài đây vẫn vui thích ở sự chân thật.”
587. “Người nữ nào nghèo khó khi chồng nghèo khó, giàu có khi chồng giàu có, tâu bậc có danh tiếng, chính nàng ấy là người vợ hạng nhất của ngài, còn các phụ nữ khác là thuộc về đức vua, không xứng đáng.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Succajaṃ vata naccaji, vācāya adadaṃ giriṃ;
Kiṃ hitassa cajantassa, vācāya adada pabbataṃ.
“Indeed, he did not renounce what is easy to renounce, he who did not grant the mountain even by word. What benefit is there for one who is renouncing, yet does not grant the mountain even by word?”
“Than ôi, người không cho ngọn núi bằng lời nói đã không từ bỏ thứ dễ từ bỏ. Trong khi ta đang từ bỏ ngọn núi không có lợi ích được yêu cầu, ngài đã không cho ngọn núi bằng lời nói.”
78.
78.
78.
Yañhi kayirā tañhi vade, yaṃ na kayirā na taṃ vade;
Akarontaṃ bhāsamānaṃ, parijānanti paṇḍitā.
“One should speak of what one does; one should not speak of what one does not do. The wise discern the one who speaks but does not act.”
“Việc gì làm, nên nói việc ấy; việc gì không làm, không nên nói việc ấy. Bậc hiền trí biết rõ người nói mà không làm.”
79.
79.
79.
Rājaputta namo tyatthu, sacce dhamme ṭhito casi;
Yassa te byasanaṃ patto, saccasmiṃ ramate mano.
“O prince, homage to you! You are established in truth and in Dhamma. Though you have met with misfortune, your mind still delights in truth.”
“Tâu vương tử, xin kính lễ ngài, ngài an trú trong sự thật và chánh pháp. Ngài là người mà dù gặp phải tai họa, tâm vẫn hoan hỷ trong sự thật.”
80.
80.
80.
Yā daliddī daliddassa, aḍḍhā aḍḍhassa kittima †;
Sā hissa paramā bhariyā, sahiraññassa itthiyoti.
“O Kittima, the wife who is poor when her husband is poor and wealthy when he is wealthy—she is truly his supreme wife. For a man with gold and silver to have women is no wonder.”
“Tâu đức vua, người vợ nào nghèo khó khi chồng nghèo khó, giàu sang khi chồng giàu sang, chính người vợ ấy là người vợ cao quý nhất của người chồng ấy. Đối với người có vàng bạc, có được phụ nữ (là điều không đáng ngạc nhiên).”
Succajajātakaṃ dasamaṃ.
The Succaja Jātaka, the tenth.
Chuyện Bổn Sanh Succaja, thứ mười.
Pucimandavaggo dutiyo.
The Pucimanda Chapter, the second.
Phẩm Pucimanda, thứ hai.
Tassuddānaṃ –
The summary thereof:
Kệ tóm tắt của phẩm ấy –
Atha cora sakassapa khantīvaro, dujjīvitatā ca varā pharusā;
Atha sasa matañca vasanta sukhaṃ, succajaṃvatanaccajinā ca dasāti.
Then the Pucimanda, Kassapamandiya, and the excellent Khantivādī; the Lohakumbhī and the excellent Sabbamaṃsalābha; then the Sasa and Matarodana, the Kaṇavera and Tittira; together with the Succaja, these are the ten.
Sau đó là (chuyện) Cora (Pucimanda), Kassapa, Khantīvara cao quý, Dujjīvitatā (Lohakumbhī), và Pharusā cao quý. Kế đến là Sasa, Mata (Matarodana), Vasanta (Kaṇavera), Sukha (Tittira), và Succajaṃvatanaccajinā, cùng với đó là mười chuyện.