Bản dịch
JA 307 — Chuyện Thần Cây Hồng Điệp (Tiền thân Pal àsa)
7. Palāsajātaka
532. “Này Bà-la-môn, trong khi biết rằng cây palāsa này là không có tâm tư, không nghe được, không nhận biết, có sự ngủ nghê thoải mái, ngươi vẫn nỗ lực ra sức, thường xuyên, không xao lãng hỏi han nó, vậy điều gì là nguyên nhân?”
533. “Được nghe tiếng là ở nơi xa xôi và to lớn, cây này đứng thẳng ở khu đất bằng, có vẻ là nơi trú ngụ của chư Thiên. Vì thế, tôi kính lễ cây palāsa này, và tài sản của chư Thiên ngụ ở nơi này là nguyên nhân.”
534. “Này Bà-la-môn, trong khi xem xét trạng thái biết ơn, ta đây sẽ làm cho ngươi tùy theo năng lực. Bởi vì làm thế nào để ngươi sau khi đi đến gần bên những người tốt, những việc làm thành tín của ngươi chẳng phải rỗng không?
535. Ở phía trước của cây tindu , có cây sung nào to lớn, đã được rào quanh, trước đây có cuộc tế lễ, ở ngay gốc cây ấy có của cải cất giữ đã được chôn giấu, không có người thừa tự, ngươi hãy đi đến và lấy của cải ấy lên.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Acetanaṃ brāhmaṇa assuṇantaṃ, jāno ajānantamimaṃ palāsaṃ;
Āraddhaviriyo dhuvaṃ appamatto, sukhaseyyaṃ pucchasi kissa hetu.
O brahmin, knowing it to be insentient, unhearing, and unknowing, for what reason do you, with aroused energy, constantly and heedfully, ask this Palāsa tree about a comfortable life?
Này Bà-la-môn, vì lý do gì mà ngài, dù biết rõ, vẫn tinh cần, thường xuyên, không xao lãng, hỏi thăm về sự an lành của cây trắc này, một loài vô tri, không nghe, không biết?
26.
26.
26.
Dūre suto ceva brahā ca rukkho, dese ṭhito bhūtanivāsarūpo;
Tasmā namassāmi imaṃ palāsaṃ, ye cettha bhūtā te † dhanassa hetu.
This tree is renowned from afar and large; it stands in a prominent place and is a dwelling for spirits. Therefore, for the sake of wealth, I pay homage to this Palāsa tree and to the spirits who dwell herein.
Cây này nổi tiếng xa gần và to lớn, đứng ở một nơi thích hợp, là nơi trú ngụ của các vị trời. Vì vậy, tôi đảnh lễ cây trắc này, và các vị trời trú ngụ nơi đây, là vì muốn cầu tài sản.
27.
27.
27.
So te karissāmi yathānubhāvaṃ, kataññutaṃ brāhmaṇa pekkhamāno;
Kathañhi āgamma sataṃ sakāse, moghāni te assu pariphanditāni.
O brahmin, showing my gratitude, I will act for you according to my power. For how, having come into the presence of the good, could your strivings be in vain?
Này Bà-la-môn, ta, vì thấy được lòng biết ơn của ngài, sẽ làm cho ngài tùy theo khả năng của ta. Vì làm sao những nỗ lực của ngài lại có thể trở nên vô ích khi đã đến với bậc thiện nhân?
28.
28.
28.
Yo tindukarukkhassa paro † pilakkho †, parivārito pubbayañño uḷāro;
Tassesa mūlasmiṃ nidhi nikhāto, adāyādo gaccha taṃ uddharāhīti.
307. Beyond the Tinduka tree stands a magnificent, surrounded Pilakkha tree, honored with ancient sacrifices. At its root a treasure is buried, which is without an heir. Go and dig it up.
Có một cây sung ở phía sau cây thị, được bao quanh, được thờ cúng từ xưa, trông rất hùng vĩ. Dưới gốc cây ấy có một kho báu được chôn giấu, không có người thừa kế. Hãy đi và đào nó lên.
Palāsajātakaṃ sattamaṃ.
The Palāsa Jātaka, the seventh.
Bổn sanh Palāsa, chuyện thứ bảy.