Bản dịch
JA 305 — Chuyện Thử Thách Giới Đức (Tiền thân S ìlavìmamasana)
5. Sīlavīmaṁsanajātaka
524. “Không có việc gọi là kín đáo ở thế gian đối với kẻ đang làm việc ác. Các sinh linh ở trong rừng nhìn thấy việc mà kẻ ngu nghĩ là kín đáo.
525. Con không nhìn thấy nơi nào kín đáo, hoặc nơi trống vắng cũng không tìm thấy. Nơi nào con không nhìn thấy người nào khác, nơi ấy là không trống vắng bởi vì con (có mặt ở đó).”
526. “Dujjacca, Sujacca, Nanda, Sukhavacchaka, Vejja, và Addhuvasīla, tất cả bọn chúng, với mục đích (đạt được vợ), đã từ bỏ nguyên tắc đạo đức.
527. Và làm thế nào vị Bà-la-môn có thể từ bỏ (mục đích đạt được vợ)? Vị đã đi đến bờ kia đối với tất cả các pháp là người gìn giữ nguyên tắc đạo đức, có nghị lực, có sự nỗ lực vì chân lý.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Natthi loke raho nāma, pāpakammaṃ pakubbato;
Passanti vanabhūtāni, taṃ bālo maññatī raho.
There is no such thing as a secret place in the world for one who commits an evil deed. The forest spirits see it, yet the fool thinks it is a secret.
Trên đời này không có nơi nào gọi là kín đáo, đối với người làm điều ác; Chư thiên trong rừng đều thấy, kẻ ngu si lại cho rằng đó là nơi kín đáo.
18.
18.
18.
Ahaṃ raho na passāmi, suññaṃ vāpi na vijjati;
Yattha aññaṃ † na passāmi, asuññaṃ hoti taṃ mayā.
305. I see no secret place, nor is any empty place to be found. Where I do not see another, that place is not empty of me.
Ta không thấy nơi nào kín đáo, cũng không có nơi nào trống vắng. Nơi nào ta không thấy người khác, nơi ấy không trống vắng đối với ta.
19.
19.
19.
Dujjacco ca sujacco † ca, nando ca sukhavaḍḍhito †;
Vejjo ca addhuvasīlo † ca, te dhammaṃ jahu matthikā.
Dujjacca and Sujacca, Nanda and Sukhavaḍḍhita, Vajja and Sīla—they, desiring a woman, abandoned the principle.
Dujjacca, Sujacca, Nanda, và Sukhavaddhita, cùng với Vejja và Addhuvasīla, những người ấy vì ham muốn người nữ nên đã từ bỏ chánh pháp.
20.
20.
20.
Brāhmaṇo ca kathaṃ jahe, sabbadhammāna pāragū;
Yo dhammamanupāleti, dhitimā saccanikkamoti.
But how could a brahmin abandon the principle, one who has gone to the far shore of all principles? He who protects the Dhamma is steadfast, endowed with truth and effort.
Làm sao vị Bà-la-môn, người đã đến bờ kia của tất cả các pháp, lại có thể từ bỏ chánh pháp? Vị ấy là người hộ trì chánh pháp, bậc kiên định, và quyết tâm trong sự thật.
Sīlavīmaṃsanajātakaṃ pañcamaṃ.
The Sīlavīmaṃsana Jātaka, the fifth.
Bổn sanh Sīlavīmaṃsana, chuyện thứ năm.