Bản dịch
JA 303 — Chuyện Vị Thánh Vương (Tiền Thân Ekaràja)
3. Ekarājajātaka
516. “Này Ekarāja, trước đây ngài đã sống và đã thọ hưởng các loại dục vô thượng đã được thành tựu cho bản thân. Bây giờ, ngài đây đã bị ném vào cảnh giam cầm khó di chuyển, ngài vẫn không đánh mất vẻ đẹp và sức mạnh trước kia.”
517. “Ngay trước đây, sự nhẫn nại và khổ hạnh đã được ta mong ước, này Dabbasena. Bây giờ, sau khi đã đạt được điều ấy, này đức vua, làm thế nào ta lại có thể đánh mất vẻ đẹp và sức mạnh trước kia?
518. Quả thật thế, tất cả đều được hoàn thành sau khi đã chứng tỏ là người có danh vọng, có trí tuệ. Và sau khi đã đạt được danh vọng cao cả chưa đạt được trước đây, ta không thể nào đánh mất vẻ đẹp và sức mạnh trước kia.
519. Này quân vương, sau khi đổi thay hạnh phúc bằng khổ đau, hoặc khổ đau bằng hạnh phúc, hãy chịu đựng điều không thể chịu đựng. Ở cả hai trường hợp, những người an tịnh, có bản thân tịch tịnh, đều thản nhiên ở hạnh phúc và ở khổ đau.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Anuttare kāmaguṇe samiddhe, bhutvāna pubbe vasī ekarāja;
So dāni dugge narakamhi khitto, nappajjahe vaṇṇabalaṃ purāṇaṃ.
Ekarāja, having formerly enjoyed unsurpassed and abundant sensual pleasures, you lived as a sole king. Now, cast into a harsh hell, why do you not abandon your former complexion and strength?
Trước kia, vua Ekarāja đã sống, hưởng thụ các dục lạc vô song, sung mãn. Nay vị ấy bị ném vào địa ngục khốn khổ, nhưng vẫn không từ bỏ dung sắc và sức mạnh xưa kia.
10.
10.
10.
Pubbeva khantī ca tapo ca mayhaṃ, sampatthitā dubbhisena † ahosi;
Taṃ dāni laddhāna kathaṃ nu rāja, jahe ahaṃ vaṇṇabalaṃ purāṇaṃ.
O Dubbhisena, formerly patience and austerity were aspired to by me. Having now obtained them, O king, how could I abandon my former complexion and strength?
Hỡi vua Dubbhisena, từ trước kia, sự kham nhẫn và khổ hạnh đã được ta mong mỏi. Hỡi đức vua, nay đã đạt được điều ấy, làm sao ta lại có thể từ bỏ dung sắc và sức mạnh xưa kia?
11.
11.
11.
Sabbā kirevaṃ pariniṭṭhitāni, yasassinaṃ paññavantaṃ visayha;
Yaso ca laddhā purimaṃ uḷāraṃ, nappajjahe vaṇṇabalaṃ purāṇaṃ.
Indeed, all things are thus accomplished for one who is glorious, wise, and persevering. And having obtained lofty, former glory, one should not abandon one's former complexion and strength.
Quả vậy, mọi sự đã được hoàn thành như thế này. Bậc có danh tiếng, có trí tuệ, sau khi kham nhẫn, và đạt được danh tiếng cao quý hơn trước, đã không từ bỏ dung sắc và sức mạnh xưa kia.
12.
12.
12.
Panujja dukkhena sukhaṃ janinda, sukhena vā dukkhamasayhasāhi;
Ubhayattha santo abhinibbutattā, sukhe ca dukkhe ca bhavanti tulyāti.
Having driven out pleasure with pain, O lord of men, or pain with pleasure, one endures the unendurable. The good, being of extinguished nature, are the same in both pleasure and in pain.
Hỡi nhân chủ, sau khi xua tan hạnh phúc bằng đau khổ, hoặc xua tan đau khổ bằng hạnh phúc, vị ấy kham nhẫn điều khó kham nhẫn. Bậc thiện trí, vì có tâm tịch tịnh, nên trong cả hai trường hợp, hạnh phúc và đau khổ, các vị ấy vẫn như nhau.
Ekarājajātakaṃ tatiyaṃ.
The Ekarāja Jātaka, the third.
Truyện Bổn Sanh Ekarāja, thứ ba.