Bản dịch
JA 300 — Chuyện Chó Sói (Tiền Thân Vaka)
10. Vakajātaka
505. “Trong khi sống nhờ vào sự giết hại mạng sống kẻ khác, có thức ăn là thịt và máu tươi, con chó sói đã thọ trì phận sự và đã thực hành ngày Trai giới.
506. Biết được sự thọ trì của nó, Thiên Chủ Sakka đã đi đến với hình dáng con dê. Lìa bỏ khổ hạnh, con chó sói đã lao vào (con dê); kẻ uống máu tươi đã phá vỡ sự khổ hạnh.
507. Tương tự y như vậy, ở đây, một số người xem nhẹ bản thân do có năng lực yếu đuối trong việc thọ trì, tựa như con chó sói với chuyện con dê.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Parapāṇarodhā † jīvanto, maṃsalohitabhojano;
Vako vataṃ samādāya, upapajji uposathaṃ.
A wolf, living by obstructing the life-breath of others, an eater of flesh and blood, undertook a vow and entered upon the Uposatha.
Sống bằng cách hủy hoại sinh mạng kẻ khác, ăn thịt và máu, con chó sói đã thọ trì giới và thực hành ngày Bố-tát.
149.
149.
149.
Tassa sakko vataññāya, ajarūpenupāgami;
Vītatapo ajjhappatto, bhañji lohitapo tapaṃ.
Sakka, having known his vow, approached in the form of a goat. The wolf pounced, his austerity gone; the blood-drinker broke his ascetic practice.
Đế Thích biết được lời nguyện của nó, liền hiện ra dưới hình dạng một con dê và đến gần. Con chó sói, kẻ uống máu, đã mất đi sự khổ hạnh, liền tấn công và phá vỡ sự tu tập của mình.
150.
150.
150.
Evameva idhekacce, samādānamhi dubbalā;
Lahuṃ karonti attānaṃ, vakova ajakāraṇāti.
Just so, some here are weak in their resolution; they make themselves contemptible on account of a goat, just like the wolf.
Cũng như vậy, ở đời này có một số người yếu kém trong sự thọ trì của mình; họ tự làm cho mình trở nên thấp kém vì một con dê, giống như con chó sói.
Vakajātakaṃ dasamaṃ.
The Vaka Jātaka, the tenth.
Bổn sanh Vaka là truyện thứ mười.
Kumbhavaggo pañcamo.
The Kumbha Vagga, the fifth.
Phẩm Kumbha là phẩm thứ năm.
Tassuddānaṃ –
The summary of this chapter:
Đây là kệ tóm tắt của phẩm ấy:
Varakumbha supattasirivhayano, sucisammata bindusaro cusabho;
Saritaṃpati caṇḍi jarākapinā, atha makkaṭiyā vakakena dasāti.
The Surāghaṭa, Supatta, Kāyanibbinda, and Jambukhādaka; the Anta, Samudda, Kāmavilāpa, and Udumbara; then the Makkaṭi along with the Vaka make ten.
Kumbha cao quý, Supatta, và truyện có tên Siri (Kāyanibbinda), Suci-sammata (Jambu-khādaka), và Usabha (Anta); Saritaṃpati (Samudda), Caṇḍī (Kāmavilāpa), Jarākapi (Udumbara), tiếp theo là Makkaṭa (Komāraputta) cùng với Vaka, là mười truyện.
Atha vagguddānaṃ –
Now the summary of the chapters:
Sau đây là kệ tóm tắt phẩm:
Saṅkappo padumo ceva, udapānena tatiyaṃ;
Abbhantaraṃ ghaṭabhedaṃ, tikanipātamhilaṅkatanti.
The Saṅkappa, the Paduma, and the Udapāna as the third; the Abbhantara and the Kumbha: these adorn the Book of Threes.
Truyện Saṅkappa, truyện Paduma, và thứ ba là truyện Udapāna; truyện Abbhantara, truyện Ghaṭabheda, đã tô điểm cho tập Ba Pháp.
The Book of Threes is finished.
Tập Ba Pháp đã kết thúc.