Bản dịch
JA 279 — Chuyện Con Hạc (Tiền thân Satapatta)
9. Satapattajātaka
442. “Giống như chàng trai trẻ trên đường đi nghĩ rằng con chó rừng cái–đi kiếm ăn ở khu rừng, có ý định tốt, đang (tìm cách) thông báo (tai họa)–là ‘kẻ có ý định không tốt,’ và nghĩ rằng con chim gõ kiến–có ý định không tốt– là ‘kẻ có ý định tốt.’”
443. Tương tự y như vậy, một người nào đó, ở đây, là thuộc hạng người như vậy, khi được nói lời nói với những điều lợi ích, thì tiếp thu ngược lại.
444. Và thật vậy, những người nào khen ngợi và tán dương kẻ ấy do sự sợ hãi, kẻ ấy nghĩ rằng chính người kia là bạn bè, tựa như chàng trai trẻ nghĩ về con chim gõ kiến.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
279. Satapattajātakaṃ (3-3-9)
279. The Satapatta Jātaka (3-3-9)
279. Chuyện Bổn Sanh Chim Gõ Kiến (3-3-9)
85.
85.
85.
Yathā māṇavako panthe, siṅgāliṃ vanagocariṃ;
Atthakāmaṃ pavedentiṃ †, anatthakāmāti maññati;
Anatthakāmaṃ satapattaṃ, atthakāmoti maññati.
Just as a young man on the path regards the forest-roaming she-jackal, who wishes for his welfare and makes it known, as one who wishes him ill; and regards the woodpecker, who wishes him ill, as one who wishes him well.
Ví như chàng thanh niên trên đường, cho rằng con chó rừng cái sống trong rừng, nói lời lợi ích, là kẻ muốn điều bất lợi; và cho rằng con chim gõ kiến, kẻ muốn điều bất lợi, là người muốn điều lợi ích.
86.
86.
86.
Evameva idhekacco, puggalo hoti tādiso;
Hitehi vacanaṃ vutto, paṭigaṇhāti vāmato.
In just the same way, here in this world a certain person is of such a kind: when spoken to with words for his welfare, he takes them in a contrary way.
Cũng dường thế ấy, ở đời này có một số người có bản chất như vậy; khi được nói lời lợi ích, lại tiếp nhận một cách sai lệch.
87.
87.
87.
Ye ca kho naṃ pasaṃsanti, bhayā ukkaṃsayanti vā †;
Tañhi so maññate mittaṃ, satapattaṃva māṇavoti.
And those who praise him, or exalt him out of fear, he indeed considers to be his friends, just as the young man did the woodpecker.
Và những người nào tán dương người ấy, hoặc vì sợ hãi mà tâng bốc; người ấy lại cho họ là bạn, cũng như chàng thanh niên cho rằng con chim gõ kiến là bạn.
Satapattajātakaṃ navamaṃ.
The Satapatta Jātaka, the ninth.
Chuyện Bổn Sanh Satapatta, phần thứ chín.