Bản dịch
JA 265 — Chuyện Mũi Tên (Tiền thân Khurappa)
5. Khurappajātaka
400. “Sau khi nhìn thấy những mũi tên đã được bắn ra bằng lực đẩy của những cây cung,
và những thanh gươm sắc bén có bôi dầu đã được nắm chặt,
trong sự hiểm nguy khi thần chết hiện diện ấy,
tại sao ông đã không có trạng thái khiếp đảm?”
401. “Sau khi nhìn thấy những mũi tên đã được bắn ra bằng lực đẩy của những cây cung,
và những thanh gươm sắc bén có bôi dầu đã được nắm chặt,
trong sự hiểm nguy khi thần chết hiện diện ấy,
tôi đã có được sự hân hoan bao la và cao cả.
402. Với niềm hân hoan sanh khởi, tôi đây đã khuất phục những kẻ thù.
Ngay trước đó, mạng sống đã được tôi buông bỏ.
Bởi vì trong khi không thể hiện sự bám víu vào mạng sống,
người dũng sĩ có thể thực hiện phận sự dũng sĩ bất cứ lúc nào.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
265. Khurappajātakaṃ (3-2-5)
265. The Khurappa Jātaka (3.2.5)
265. Chuyện Tiền Thân Khurappa (3-2-5)
43.
43.
43.
Disvā khurappe dhanuveganunne, khagge gahīte tikhiṇe teladhote;
Tasmiṃ bhayasmiṃ maraṇe viyūḷhe, kasmā nu te nāhu chambhitattaṃ.
Having seen the razor-arrows shot with the force of the bow, and the sharp, oil-polished swords being grasped, in that fearful moment with death arrayed, why indeed did no trembling arise in you?
Khi thấy những mũi tên sắc bén được bắn đi với tốc độ của cung, những thanh gươm sắc bén được mài dầu đang được cầm giữ; khi cái chết đáng sợ ấy hiện rõ, tại sao ông không hề run sợ?
44.
44.
44.
Disvā khurappe dhanuveganunne, khagge gahīte tikhiṇe teladhote;
Tasmiṃ bhayasmiṃ maraṇe viyūḷhe, vedaṃ alatthaṃ vipulaṃ uḷāraṃ.
Having seen the razor-arrows shot with the force of the bow, and the sharp, oil-polished swords being grasped, in that fearful moment with death arrayed, I obtained a vast and sublime joy.
Khi thấy những mũi tên sắc bén được bắn đi với tốc độ của cung, những thanh gươm sắc bén được mài dầu đang được cầm giữ; khi cái chết đáng sợ ấy hiện rõ, ta đã đạt được niềm hỷ lạc rộng lớn, cao thượng.
45.
45.
45.
So vedajāto ajjhabhaviṃ amitte, pubbeva me jīvitamāsi cattaṃ;
Na hi jīvite ālayaṃ kubbamāno, sūro kayirā sūrakiccaṃ kadācīti.
With that joy arisen, I overcame my enemies, for my life had already been relinquished. Indeed, a hero who holds an attachment to life would never perform a heroic deed.
Với niềm hỷ lạc sinh khởi, ta đã chiến thắng kẻ thù. Mạng sống của ta đã được từ bỏ từ trước. Quả thật, người anh hùng còn luyến tiếc mạng sống thì không bao giờ có thể làm được việc của người anh hùng.
Khurappajātakaṃ pañcamaṃ.
The Khurappa Jātaka, the fifth.
Chuyện Tiền Thân Khurappa là phần thứ năm.