Bản dịch
JA 260 — Chuyện Sứ Giả Của Cái Bụng (Tiền thân Duta)
10. Dūtajātaka
385. “Vì nhu cầu của cái bụng, người ta đi đến nơi xa xôi để cầu xin ngay cả kẻ thù. Tâu đấng thủ lãnh xa binh, thần là sứ giả của cái bụng. Xin ngài chớ giận dữ với thần.
386. Ngày và đêm, các chàng thanh niên đi theo quyền lực của cái bụng. Tâu đấng thủ lãnh xa binh, thần là sứ giả của cái bụng. Xin ngài chớ giận dữ với thần.”
387. Này Bà-la-môn, trẫm ban cho khanh một ngàn bò cái màu hung đỏ với một con bò mộng. Bởi vì là người sứ giả, tại sao trẫm lại không ban tặng cho người sứ giả ? Chúng ta cũng đều là sứ giả của chính cái bụng.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Yassatthā dūramāyanti, amittamapi yācituṃ;
Tassūdarassahaṃ dūto, mā me kujjha † rathesabha.
For whose sake beings go far to beg even from an enemy—I am the messenger of that belly. Do not be angry with me, O excellent king.
Thưa bậc chiến sĩ xa vương, vì cái bụng mà người ta đi đến phương xa, để cầu xin cả kẻ thù. Tôi là sứ giả của cái bụng ấy, xin ngài chớ giận tôi.
29.
29.
29.
Yassa divā ca ratto ca, vasamāyanti māṇavā;
Tassūdarassahaṃ dūto, mā me kujjha † rathesabha.
Under whose control people come, both day and night—I am the messenger of that belly. Do not be angry with me, O excellent king.
Thưa bậc chiến sĩ xa vương, vì cái bụng mà loài người phải chịu khuất phục cả ngày lẫn đêm. Tôi là sứ giả của cái bụng ấy, xin ngài chớ giận tôi.
30.
30.
30.
Dadāmi te brāhmaṇa rohiṇīnaṃ, gavaṃ sahassaṃ saha puṅgavena;
Dūto hi dūtassa kathaṃ na dajjaṃ, mayampi tasseva bhavāma dūtāti.
I give you, brahmin, a thousand red cows together with a bull. For how could a messenger not give to a messenger? We too are messengers of that very same one.
Này Bà-la-môn, ta cho ông một ngàn con bò cái sắc hồng cùng với một con bò đực. Vì sao một sứ giả lại không tặng quà cho một sứ giả khác? Vì chúng ta cũng đều là sứ giả của cái bụng ấy.
Dūtajātakaṃ dasamaṃ.
The Dūta Jātaka, the tenth.
Chuyện Bổn Sanh Sứ Giả, thứ mười.
Saṅkappavaggo paṭhamo.
The First Chapter on Thought.
Phẩm Saṅkappa, thứ nhất.
Tassuddānaṃ –
The summary verse for that chapter:
Phần tóm tắt của phẩm này:
Usukāravaro tilamuṭṭhi maṇi, hayarāja vihaṅgama āsiviso;
Janasandha kahāpaṇavassa puna, tiriṭaṃ puna dūtavarena dasāti.
The excellent arrow-maker, the handful of sesame, the jewel; the horse-king, the bird, the venomous serpent; Janasandha, the rain of coins, then Tiriṭa, and then with the excellent messenger—thus there are ten.
Chuyện Usukāra, Tilamuṭṭhi, Maṇi, Hayarāja, Vihaṅgama, Āsivisa; rồi đến Janasandha, Kahāpaṇavassa, Tiriṭa, và Dūtavara, tổng cộng là mười chuyện.