Bản dịch
JA 242 — Chuyện Con Chó (Tiền thân Sunakha)
2. Sunakhajātaka
340. “Quả thật con chó này ngu thật, nó không nhai đứt sợi dây da! Nó có thể thoát khỏi sự trói buộc, và không bị giữ lại, nó có thể chạy về nhà.”
341. “Điều đã được tôi quyết định ở ý của tôi, rồi đã được thực hiện ở tâm của tôi, và tôi chờ đợi thời điểm cho đến khi mọi người đã đi ngủ.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
242. Sunakhajātakaṃ (2-10-2)
242. The Dog Jātaka (2.10.2)
242. Chuyện Bổn Sanh Con Chó (2-10-2)
184.
184.
184.
Bālo vatāyaṃ sunakho, yo varattaṃ † na khādati;
Bandhanā ca pamuñceyya, asito ca gharaṃ vaje.
What a fool this dog is, who does not chew the strap! He would be freed from his bond, and having eaten, would go home.
Con chó này thật là ngu ngốc, nó không gặm sợi dây da. Nó có thể được giải thoát khỏi sự trói buộc, và sau khi ăn no, nó có thể về nhà.
185.
185.
185.
Aṭṭhitaṃ me manasmiṃ me, atho me hadaye kataṃ;
Kālañca paṭikaṅkhāmi, yāva passupatū jano †.
It is established in my mind, and it is resolved in my heart. I am awaiting the right time, until the people fall asleep.
Điều ấy đã được ghi tạc trong tâm trí tôi, và cũng đã được khắc ghi trong tim tôi. Tôi đang chờ đợi thời cơ, cho đến khi mọi người đều ngủ say.
Sunakhajātakaṃ dutiyaṃ.
The Dog Jātaka, the second.
Chuyện Bổn Sanh Con Chó là chuyện thứ hai.