Bản dịch
JA 241 — Chuyện Vua Chó Rừng Sabbadàtha (Tiền thân Sabbadàtha)
1. Sabbadāṭhijātaka
338. Con chó rừng, kẻ tầm cầu về đồ chúng, ương ngạnh vì ngã mạn, đã chiếm được vùng đất rộng lớn, đã trở thành vị vua của tất cả các loài thú có răng nanh.
339. Tương tự như vậy, người nào có đồ chúng trong số loài người, chính người ấy là vĩ đại ở nơi ấy, ví như con chó rừng đối với các loài thú có nanh.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
241. Sabbadāṭhijātakaṃ (2-10-1)
241. The All-Tusked Jātaka (2.10.1)
241. Chuyện Bổn Sanh Loài Có Nanh (2-10-1)
182.
182.
182.
Siṅgālo mānathaddho ca, parivārena atthiko;
Pāpuṇi mahatiṃ bhūmiṃ, rājāsi sabbadāṭhinaṃ.
The jackal, stiff with pride and desirous of a retinue, attained a great domain; he was the king of all tusked creatures.
Con chó rừng, cứng đầu vì kiêu mạn, và ham muốn tùy tùng, đã đạt được địa vị lớn lao, làm vua của tất cả loài có nanh.
183.
183.
183.
Evameva manussesu, yo hoti parivāravā;
So hi tattha mahā hoti, siṅgālo viya dāṭhinanti.
Just so among human beings, whoever has a retinue, he indeed is great in that place, like the jackal among the tusked creatures.
Cũng thế ấy, giữa loài người, ai là người có tùy tùng, người ấy là bậc vĩ đại ở đấy, như chó rừng giữa các loài có nanh.
Sabbadāṭhijātakaṃ paṭhamaṃ.
The All-Tusked Jātaka, the first.
Chuyện Bổn Sanh Loài Có Nanh là chuyện thứ nhất.