Bản dịch
JA 217 — Chuyện Người Bán Rau (Tiền thân Seggu)
7. Seggujātaka
287. “Tất cả thế gian đều đã được vui sướng, (con gái ta) Seggu không rành rẽ pháp lứa đôi. Bản thể con hôm nay có còn gọi là trinh nữ, là khi bị cha nắm lấy ở trong rừng, con liền òa khóc?”
290. “Người nào là nơi nương tựa của tôi khi tôi bị xúc chạm khổ đau, người ấy là cha của tôi, kẻ lập kế hãm hại tôi ở trong khu rừng. Tôi đây khóc lóc cho ai ở giữa khu rừng? Người bảo vệ tôi lại là người làm điều bạo lực (đối với tôi).”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sabbo loko attamano ahosi, akovidā gāmadhammassa seggu;
Komāri ko nāma † tavajja dhammo, yaṃ tvaṃ gahitā pavane parodasi.
The whole world was glad, but you, Seggu, are unskilled in the village custom. Maiden, what is this way of yours today, that you weep aloud, having been seized in the forest?
Tất cả thế gian đã hoan hỷ, này Seggu, con không rành rẽ về pháp thế gian. Này cô gái, cái pháp hôm nay của con là gì vậy, mà khi bị (cha) nắm lấy trong rừng, con đã khóc lóc?
134.
134.
134.
Yo dukkhaphuṭṭhāya bhaveyya tāṇaṃ, so me pitā dubbhi vane karoti;
Sā kassa kandāmi vanassa majjhe, yo tāyitā so sahasaṃ karotīti.
He who should be a shelter for me when afflicted by suffering, my own father, harms me in the forest. To whom shall I cry in the middle of the woods? My own protector is committing violence.
Người nào nên là nơi nương tựa cho con khi bị đau khổ chạm đến, người cha ấy của con lại làm điều sai trái trong rừng. Con đây, giữa chốn rừng này, biết khóc với ai? Người đáng lẽ phải bảo vệ, chính người ấy lại làm điều bạo ngược.
Seggujātakaṃ sattamaṃ.
The Seggu Jātaka, the seventh.
Chuyện Bổn Sanh Seggu, thứ bảy.