Bản dịch
JA 214 — Chuyện Con Sông Đầy (Tiền thân Punna-Nadi)
4. Puṇṇanadījātaka
283. “Họ đã nói con sông đầy nước khiến con vật gì có thể uống được, họ đã nói lúa mạch đã sanh trưởng khiến con vật gì có thể ẩn náu, họ kêu gọi người đã đi xa nhờ vào con vật gì, (thịt) con vật ấy đã đến với khanh. Nào, này Bà-la-môn, hãy ăn đi.”
284. “Bởi vì nhớ đến ta, đức vua đã gởi đến dầu là (thịt) quạ, (rồi sẽ gởi) chim thiên nga, chim cò, và chim công. Nếu không có sự nhớ đến, quả là điều tồi tệ.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
214. Puṇṇanadījātakaṃ (2-7-4)
214. The Puṇṇanadī Jātaka (2-7-4)
214. Chuyện Bổn Sanh Sông Đầy (2-7-4)
127.
127.
127.
Puṇṇaṃ nadiṃ yena ca peyyamāhu, jātaṃ yavaṃ yena ca guyhamāhu;
Dūraṃ gataṃ yena ca avhayanti, so tyāgato † handa ca bhuñja brāhmaṇa.
He by whom they call a full river drinkable, and by whom they call grown barley a hiding place, and by whom they call back one who has gone far—he has come to you. Come now, brahmin, and eat.
Này Bà-la-môn, do con vật nào mà họ gọi sông đầy là có thể uống được, do con vật nào mà họ gọi lúa mạch đã mọc là được che kín, do con vật nào mà họ gọi người đi xa lại, con vật ấy đã đến với ông, thôi nào, hãy ăn đi.
128.
128.
128.
Yato maṃ saratī rājā, vāyasampi pahetave;
Haṃsā koñcā mayūrā ca †, asatīyeva pāpiyāti.
Since the king remembers me, so as to send even a crow, and for swans, herons, and peacocks, not remembering would be truly wicked.
Khi mà đức vua nhớ đến tôi để gửi cả thịt quạ; (còn) ngỗng, diệc, và công, sự không nhớ quả là xấu xa.
Puṇṇanadījātakaṃ catutthaṃ.
The Puṇṇanadī Jātaka, the fourth.
Chuyện Bổn Sanh Sông Đầy, thứ tư.