Bản dịch
JA 213 — Chuyện Vua Bharu (Tiền thân Bharu)
3. Bharujātaka
281. “Ta đã được nghe rằng: Đức vua Bharu, sau khi tạo ra sự sứt mẻ giữa các vị ẩn sĩ, đã bị sụp đổ cùng với vương quốc; vị vua ấy đã đi đến diệt vong.
282. Chính vì thế, các bậc sáng suốt không khen ngợi việc đi theo sự ham muốn. Người có tâm không xấu xa nên nói lời nói liên quan đến sự thật.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
213. Bharujātakaṃ (2-7-3)
213. The Bharu Jātaka (2-7-3)
213. Chuyện Bổn Sanh Bharu (2-7-3)
125.
125.
125.
Isīnamantaraṃ katvā, bharurājāti † me sutaṃ;
Ucchinno saha raṭṭhehi †, sarājā vibhavaṅgato.
Having created a division among the seers, King Bharu—so I have heard—was uprooted along with his kingdom; that king came to ruin.
Tôi đã nghe rằng vua Bharu, sau khi gây chia rẽ các vị ẩn sĩ, vị vua ấy đã bị diệt vong cùng với các xứ sở, đã đi đến sự hủy hoại.
126.
126.
126.
Tasmā hi chandāgamanaṃ, nappasaṃsanti paṇḍitā;
Aduṭṭhacitto bhāseyya, giraṃ saccupasaṃhitanti.
Therefore the wise do not praise succumbing to partiality. With a mind free from malice, one should utter speech connected with the truth.
Do vậy, bậc hiền trí không tán thán sự đi theo thiên vị. Với tâm không bị ô nhiễm, người ấy nên nói lời nói liên quan đến sự thật.