Bản dịch
JA 210 — Chuyện Con Chim Gõ Mỏ (Tiền thân Kandagalaka)
10. Kandagalakajātaka
275. “Này bạn, cây này có tên là gì? Nó có lá mềm, có gai nhọn. Với một cái mổ vào nơi ấy, cái đầu bị hư hoại.”
276. “Con chim này đi lại ở các khu rừng, mổ vào các thân cây có gỗ xốp, không có lõi, rồi nó đã chạm vào cây nhục quế, có lõi đã được hình thành, tại nơi ấy, con linh điểu đã làm vỡ cái đầu.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
210. Kandagalakajātakaṃ (2-6-10)
210. The Kandagalaka Jātaka (2-6-10)
210. Chuyện Bổn sanh Kandagalaka (2-6-10)
119.
119.
119.
Ambho ko nāma yaṃ rukkho, sinnapatto † sakaṇṭako;
Yattha ekappahārena, uttamaṅgaṃ vibhijjitaṃ †.
Sir, what is the name of this tree, with small leaves and thorns, on which a head was split with a single blow?
Này bạn, cây này tên là gì, cây có lá nhỏ, có gai; nơi mà chỉ với một cú mổ, cái đầu đã bị vỡ tan.
120.
120.
120.
Acāri vatāyaṃ vitudaṃ vanāni, kaṭṭhaṅgarukkhesu asārakesu;
Athāsadā khadiraṃ jātasāraṃ †, yatthabbhidā garuḷo uttamaṅganti.
Indeed, this noble bird roamed, pecking at pithless trees in the forest, which are mere heaps of firewood. Then he came upon the Khadira, which is naturally hard-wooded, where the garuḍa split his head.
Con chim này thật đã lang thang mổ khoét các khu rừng, vào những cây không có lõi, chỉ toàn là củi. Rồi nó đã đến gần cây keo vốn có lõi cứng, nơi mà con chim garuḷa đã làm vỡ đầu của mình.
Kandagalaka † jātakaṃ dasamaṃ.
The Kandagalaka Jātaka, the tenth.
Chuyện Bổn sanh Kandagalaka là (truyện) thứ mười.
Nataṃdaḷhavaggo chaṭṭho.
The Daḷha Vagga, the sixth.
Phẩm Daḷha là (phẩm) thứ sáu.
Tassuddānaṃ –
The summary verse thereof:
Kệ tóm tắt của phẩm ấy:
Daḷhabandhana haṃsavaro ca puna, virūpakkha saviṭṭhaka macchavaro;
Sakuruṅga saassaka ambavaro, puna kukkuṭako garuḷena dasāti.
Daḷhabandhana and the excellent swan; again, Virūpakkha, Saviṭṭhaka, and the excellent fish; Sakuruṅga with Assaka and the excellent mango; again the cock, with the Garuḷa—thus there are ten.
(Truyện) Daḷhabandhana và Haṃsa cao quý, rồi đến Virūpakkha, Saviṭṭhaka, và Maccha cao quý; (truyện) Kuruṅga, Assaka, và Ambāra; rồi đến Kukkuṭaka cùng với Garuḷa là mười (truyện).