Bản dịch
JA 209 — Chuyện Con Chim Mồi (Tiền thân Kakkara)
9. Kukkuṭajātaka
273. “Ta đã nhìn thấy các cây long thọ và các cây đuốt núi ở trong rừng, những cây ấy không di chuyển như là ngươi di chuyển giữa các cây rừng.”
274. “Con gà rừng già này đã bẻ gãy cái lồng rồi đi đến. Thiện xảo về các bẫy sập bằng lông thú, nó nói xong rồi bỏ đi.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
209. Kukkuṭajātakaṃ (2-6-9)
209. The Kukkuṭa Jātaka (2-6-9)
209. Chuyện Bổn sanh Kukkuṭa (2-6-9)
117.
117.
117.
Diṭṭhā mayā vane rukkhā, assakaṇṇā vibhīṭakā †;
Na tāni evaṃ sakkanti, yathā tvaṃ rukkha sakkasi.
I have seen trees in the forest, the Assakaṇṇa and the Vibhīṭaka; but they cannot move in the way that you, O tree, can move.
Ta đã thấy các cây trong rừng, cây sala và cây bàng; chúng không thể lay động được như ngươi, hỡi cây, có thể lay động.
118.
118.
118.
Purāṇakukkuṭo † ayaṃ, bhetvā pañjaramāgato;
Kusalo vāḷapāsānaṃ, apakkamati bhāsatīti.
This old rooster, having broken its cage, has come; skilled in horse-hair snares, he departs and speaks.
Con gà trống già này, (mạnh mẽ) như thể phá lồng mà đến; nó khéo léo đối với các bẫy thòng lọng bằng lông đuôi, nó tránh xa và lên tiếng.