Bản dịch
JA 197 — Chuyện Bạn-Thù (Tiền thân Mittàmitta)
7. Mittāmittajātaka
245. “Sau khi gặp, không cười với người ấy, không tỏ vẻ vui mừng với người ấy, không đưa cặp mắt nhìn người ấy, và tiến hành điều ngược lại.
246. Những biểu hiện này là được thiết lập ở kẻ thù. Nhờ vào những điều ấy, sau khi thấy và nghe, bậc sáng suốt có thể biết được kẻ thù.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
197. Mittāmittajātakaṃ (2-5-7)
197. The Mittāmitta Jātaka (2-5-7)
197. Chuyện Bổn Sanh Mittāmitta (2-5-7)
93.
93.
93.
Na naṃ umhayate disvā, na ca naṃ paṭinandati;
Cakkhūni cassa na dadāti, paṭilomañca vattati.
On seeing him, he does not smile, nor does he welcome him; he does not give him his eyes, and he behaves in a contrary way.
Thấy mặt, chẳng mỉm cười; nghe lời, chẳng vui mừng; chẳng nhìn thẳng vào mắt; và hành động trái ngược.
94.
94.
94.
Ete bhavanti ākārā, amittasmiṃ patiṭṭhitā;
Yehi amittaṃ jāneyya, disvā sutvā ca paṇḍitoti.
These are the signs established in an enemy, by which a wise person, having seen and heard, may recognize an enemy.
Đây là những dấu hiệu được thiết lập nơi kẻ thù. Nhờ chúng mà người trí, qua thấy và nghe, có thể biết được ai là kẻ thù.
Mittāmittajātakaṃ sattamaṃ.
The Mittāmitta Jātaka, the seventh.
Chuyện Bổn Sanh Mittāmitta, câu chuyện thứ bảy.