Bản dịch
JA 189 — Chuyện Tấm Da Sư Tử (Tiền thân Sìhacamma)
9. Sīhacammajātaka
229. “Tiếng kêu này không phải là của con sư tử, không phải của con cọp, không phải của con báo. Được trùm lên với tấm da sư tử, con lừa hạ tiện kêu lên (tiếng hí của con lừa).
230. Cũng đã thời gian dài, con lừa có thể nhai ăn rau xanh, lúa mạch. Được trùm lên với tấm da sư tử, ngay khi đang hí lên, nó đã làm hại nó.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
189. Sīhacammajātakaṃ (2-4-9)
189. The Sīhacamma Jātaka (2-4-9)
189. Bổn sanh Sīhacamma (2-4-9)
77.
77.
77.
Netaṃ sīhassa naditaṃ, na byagghassa na † dīpino;
Pāruto sīhacammena, jammo nadati gadrabho.
188. This is not the sound of a lion, nor of a tiger, nor of a leopard; clothed in a lion's skin, a wretched donkey brays.
Đây không phải tiếng rống của sư tử, không phải của cọp, cũng không phải của báo. Khoác tấm da sư tử, chính là con lừa hèn hạ đang kêu đó.
78.
78.
78.
Cirampi kho taṃ khādeyya, gadrabho haritaṃ yavaṃ;
Pāruto sīhacammena, ravamānova dūsayīti.
For a long time, indeed, the donkey could have eaten green barley; clothed in a lion's skin, by braying, it destroyed itself.
Con lừa khoác tấm da sư tử đã có thể ăn lúa mạch xanh trong một thời gian dài. Nhưng khi cất tiếng kêu, nó đã tự hại mình.
Sīhacammajātakaṃ navamaṃ.
The Sīhacamma Jātaka, the Ninth.
Bổn sanh Sīhacamma, câu chuyện thứ chín.