Bản dịch
JA 186 — Chuyện Vua Mang Sữa Đông (Tiền thân Dadhivàhana)
6. Dadhivāhanajātaka
223. “Cây xoài này trước đây đã có được sắc, hương, và vị. Trong khi đạt được chính sự chăm sóc ấy, vì điều gì khiến cây xoài có trái đắng?”
224. “Tâu Dadhivāhana, cây xoài của bệ hạ bị bao trùm bởi giống cây pucimanda,
rễ bị xen lẫn với rễ, cành với cành đan vào nhau.
Do việc cư ngụ chung với kẻ xấu, vì điều ấy khiến cây xoài có trái đắng.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
186. Dadhivāhanajātakaṃ (2-4-6)
186. The Dadhivāhana Jātaka (2-4-6)
186. Chuyện Bổn Sanh Dadhivāhana (2-4-6)
71.
71.
71.
Vaṇṇagandharasūpeto, amboyaṃ ahuvā pure;
Tameva pūjaṃ labhamāno, kenambo kaṭukapphalo.
186. O wise one, this mango tree was formerly endowed with color, fragrance, and taste. While still receiving that very same honor, for what reason does the mango now have bitter fruit?
Trước đây, cây xoài này đã từng đầy đủ màu sắc, hương thơm, và vị ngọt; bây giờ, vẫn đang nhận được sự cúng dường tương tự, tại sao cây xoài lại có quả đắng?
72.
72.
72.
Pucimandaparivāro, ambo te dadhivāhana;
Mūlaṃ mūlena saṃsaṭṭhaṃ, sākhā sākhā † nisevare †;
O King Dadhivāhana, your royal mango tree is surrounded by neem trees. Its root is intertwined with their roots; their branches penetrate its branches.
Tâu đại vương Dadhivāhana, cây xoài của ngài có cây sầu đâu bao quanh; rễ của nó đã quyện vào rễ của cây sầu đâu, cành của cây sầu đâu đã xen vào cành của nó;
Asātasannivāsena, tenambo kaṭukapphaloti.
Through association with the unpleasant, for that reason the mango has bitter fruit.
Do sự chung sống với loài cây không ngọt ngào, vì lý do đó, cây xoài có quả đắng.
Dadhivāhanajātakaṃ chaṭṭhaṃ.
The Dadhivāhana Jātaka, the Sixth.
Chuyện Bổn Sanh Dadhivāhana là chuyện thứ sáu.