Bản dịch
JA 164 — Chuyện Chim Diều Hâu (Tiền thân Gijjha)
4. Gijjhajātaka
179. “ Chim kên kên nhìn thấy các tử thi cách xa một trăm do-tuần, tại sao sau khi đã chạm vào lưới và bẫy sập, mà ngươi vẫn không hay biết?”
180. “ Trong lúc có nạn tai, vào thời kỳ tiêu hoại mạng sống, khi ấy, chúng sanh dầu đã chạm vào lưới và bẫy sập, thì cũng không hay biết.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
164. Gijjhajātakaṃ (2-2-4)
164. The Gijjha Jātaka (2.2.4)
164. Chuyện Bổn Sanh Kên Kên (2-2-4)
27.
27.
27.
Yaṃ nu gijjho yojanasataṃ, kuṇapāni avekkhati;
Kasmā jālañca pāsañca, āsajjāpi na bujjhasi.
A vulture, they say, can see a carcass from a hundred yojanas away. Why then, having come upon a net and a snare, do you not perceive it?
Này kên kên, ngươi thấy được xác chết từ xa trăm do-tuần, tại sao đến gần rồi mà không nhận ra lưới và bẫy?
28.
28.
28.
Yadā parābhavo hoti, poso jīvitasaṅkhaye;
Atha jālañca pāsañca, āsajjāpi na bujjhatīti.
When a being is facing ruin, at the destruction of its life, then, even having come upon a net and a snare, it does not perceive it.
Tâu Đại vương, khi một người gặp phải suy vong, khi mạng sống đi đến hồi kết, bấy giờ, dù đến gần, người ấy cũng không nhận ra lưới và bẫy.
Gijjhajātakaṃ catutthaṃ.
The Gijjha Jātaka, the fourth.
Chuyện Bổn Sanh Kên Kên là chuyện thứ tư.