- Itivuttaka 95
- Tikanipāta
- Pañcamavagga
Bản dịch
ITI 95 — Kinh Sự Sanh Khởi Của Các Dục
Kāmūpapattisutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, đây là ba sự sanh khởi của các dục. Ba sự sanh khởi nào? Các dục đã được hiện diện, các sự thích thú vật do tự mình biến hóa ra, các sự thể hiện quyền lực đối với các dục do người khác biến hóa ra. Này các tỳ khưu, đây là ba sự sanh khởi của các dục.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Hạng có các dục đã được hiện diện, chư Thiên có sự thể hiện quyền lực, chư Thiên có sự thích thú vật do tự mình biến hóa ra, và các hạng khác có sự hưởng thụ các dục, ...
3. ... họ không vượt qua luân hồi, sự hiện hữu ở nơi này hay sự hiện hữu ở nơi khác. Sau khi biết được bất lợi này ở các sự hưởng thụ dục, bậc sáng suốt nên buông bỏ tất cả các dục thuộc cõi trời và thuộc loài người.
4. Sau khi chặt đứt sự trói buộc dễ chịu ở các sắc đáng yêu, dòng chảy khó thể vượt qua, rồi viên tịch Niết Bàn không còn dư sót, các vị đã vượt qua khổ đau không còn dư sót.
5. Các bậc hiểu biết sâu sắc, đã nhìn thấy pháp của bậc Thánh, các bậc sáng suốt, sau khi hiểu biết đúng đắn, sau khi biết rõ sự diệt trừ việc sanh ra, không đi đến sự hiện hữu lại nữa.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 95
- The Book of the Threes
- Chapter Five
Provided With Pleasure
6. Kinh Sanh Khởi Của Dục
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
95. Điều này đã được Thế Tôn, bậc A-la-hán, thuyết giảng và tôi đã nghe như vầy:
“Tisso imā, bhikkhave, kāmūpapattiyo. Katamā tisso? Paccupaṭṭhitakāmā, nimmānaratino, paranimmitavasavattino—imā kho, bhikkhave, tisso kāmūpapattiyo”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“Mendicants, there are these three ways of being provided with sensual pleasures. What three? Some sensual pleasures are simply present; some are for those who love to create; and some are for those who control what is created by others. These are the three ways of being provided with sensual pleasures.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
“Này các Tỳ khưu, có ba sự sanh khởi của dục này. Ba loại nào? (Chúng sanh) có các dục hiện hữu, chư Thiên Hóa Lạc, và chư Thiên Tha Hóa Tự Tại. Này các Tỳ khưu, đây là ba sự sanh khởi của dục.” Thế Tôn đã thuyết giảng ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến như sau:
“Paccupaṭṭhitakāmā ca, ye devā vasavattino; Nimmānaratino devā, ye caññe kāmabhogino; Itthabhāvaññathābhāvaṁ, saṁsāraṁ nātivattare.
“Sensual pleasures that are simply present, gods who control what is created by others, gods who love to create, and others who indulge in sensual pleasures—They go from this state to another, but don’t escape transmigration.
“(Chúng sanh) có các dục hiện hữu, và chư Thiên Tha Hóa Tự Tại, chư Thiên Hóa Lạc, và những chúng sanh khác hưởng thụ các dục, (tất cả) đều không vượt qua được vòng luân hồi, (qua) trạng thái này hay trạng thái khác.
Etamādīnavaṁ ñatvā, kāmabhogesu paṇḍito; Sabbe pariccaje kāme, ye dibbā ye ca mānusā.
Knowing this danger in sensual indulgence, an astute person would forsake all sensual pleasures, both human and heavenly.
“Bậc hiền trí, sau khi đã biết được sự nguy hại này trong việc hưởng thụ các dục, nên từ bỏ tất cả các dục, cả những dục ở cõi trời và những dục ở cõi người.
Piyarūpasātagadhitaṁ, chetvā sotaṁ duraccayaṁ; Asesaṁ parinibbanti, asesaṁ dukkhamaccaguṁ.
Having cut the stream so hard to pass, that’s tied to pleasant seeming things, they become fully extinguished, completely transcending suffering.
“Sau khi cắt đứt dòng chảy khó vượt qua, vốn tham luyến các sắc tướng đáng yêu và dễ chịu, các vị ấy đạt đến Niết-bàn vô dư, đã vượt qua mọi khổ đau không còn sót lại.
Ariyaddasā vedaguno, sammadaññāya paṇḍitā; Jātikkhayamabhiññāya, nāgacchanti punabbhavan”ti.
Seers of the noble truths, knowledge masters, the astute, understanding rightly, directly know the ending of rebirth, they come not back to future lives.”
“Những bậc hiền trí đã thấy được các (sự thật) bậc Thánh, đã đạt đến tuệ giác, sau khi đã hiểu biết một cách đúng đắn, sau khi đã thắng tri về sự đoạn tận của sanh, các vị ấy không còn đi đến tái sanh.”
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Chaṭṭhaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Thế Tôn thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy. (Kinh thứ) sáu.