- Itivuttaka 96
- Tikanipāta
- Pañcamavagga
Bản dịch
ITI 96 — Kinh Sự Gắn Bó Với Các Dục
Kāmayogasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, bị gắn bó với sự gắn bó của dục, bị gắn bó với sự gắn bó của hữu, là vị hữu lai, người trở về lại trạng thái này.
Này các tỳ khưu, không còn bị ràng buộc với sự gắn bó của dục, bị gắn bó với sự gắn bó của hữu, là vị Bất Lai, người không trở về lại trạng thái này.
Này các tỳ khưu, không còn bị ràng buộc với sự gắn bó của dục, không còn bị ràng buộc với sự gắn bó của hữu, là vị A-la-hán, có lậu hoặc đã cạn kiệt.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Bị ràng buộc với cả hai: với sự gắn bó của dục và với sự gắn bó của hữu, chúng sanh đi đến luân hồi, đi đến sanh và tử.
3. Và những ai sau khi dứt bỏ các dục, không đạt đến sự diệt trừ các lậu hoặc, bị ràng buộc với sự gắn bó của hữu, được gọi là vị ‘Bất Lai.’
4. Còn những vị nào có hoài nghi đã được chặt đứt, có ngã mạn và sự hiện hữu lại nữa đã được cạn kiệt, những vị nào đã đạt đến sự diệt trừ các lậu hoặc, thật vậy những vị ấy đã đi đến bờ kia ở thế gian.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Tụng Phẩm thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 96
- The Book of the Threes
- Chapter Five
Yoked to Sensual Pleasures
7. Kinh Ách Dục
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
96. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vậy:
“Kāmayogayutto, bhikkhave, bhavayogayutto āgāmī hoti āgantā itthattaṁ. Kāmayogavisaṁyutto, bhikkhave, bhavayogayutto anāgāmī hoti anāgantā itthattaṁ. Kāmayogavisaṁyutto, bhikkhave, bhavayogavisaṁyutto arahā hoti, khīṇāsavo”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“Mendicants, one yoked to both sensual pleasures and rebirth is a returner, who comes back to this place. One unyoked from sensual pleasures but still yoked to rebirth is a non-returner, who comes not back to this place. One unyoked from both sensual pleasures and rebirth is a perfected one, who has ended defilements.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
“Này các Tỷ-kheo, người còn tương ưng với ách trược của dục, còn tương ưng với ách trược của hữu, là bậc Nhất lai, người sẽ trở lại trạng thái này. Này các Tỷ-kheo, người đã ly ách trược của dục, nhưng còn tương ưng với ách trược của hữu, là bậc Bất lai, người không trở lại trạng thái này. Này các Tỷ-kheo, người đã ly ách trược của dục, đã ly ách trược của hữu, là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc.” Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Về điều này, được nói như sau:
“Kāmayogena saṁyuttā, bhavayogena cūbhayaṁ; Sattā gacchanti saṁsāraṁ, jātimaraṇagāmino.
“Yoked to both sensual pleasures and the desire to be reborn in a future life; sentient beings continue to transmigrate, with ongoing birth and death.
“Chúng sanh bị trói buộc bởi cả hai, ách trược của dục và ách trược của hữu, đi vào vòng luân hồi, phải chịu sanh và tử.”
Ye ca kāme pahantvāna, appattā āsavakkhayaṁ; Bhavayogena saṁyuttā, anāgāmīti vuccare.
Those who’ve given up sensual pleasures without attaining the end of defilements, and are still yoked to being reborn, are said to be non-returners.
“Những vị đã từ bỏ các dục, nhưng chưa đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, còn bị trói buộc bởi ách trược của hữu, được gọi là bậc Bất lai.”
Ye ca kho chinnasaṁsayā, khīṇamānapunabbhavā; Te ve pāraṅgatā loke, ye pattā āsavakkhayan”ti.
Those who have cut off doubt, and ended conceit and future lives, they’re the ones in this world <j>who’ve truly crossed over, having reached the ending of defilements.”
“Còn những vị đã cắt đứt hoài nghi, đã tận diệt ngã mạn và tái sanh, những vị ấy đã đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, thật sự là những người đã đến bờ kia trong thế gian.”
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Sattamaṁ.
Tatiyabhāṇavāraṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Thế Tôn nói đến, tôi đã nghe như vậy. (Kinh) thứ bảy.