- Itivuttaka 93
- Tikanipāta
- Pañcamavagga
Aggisutta
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
Bản dịch
Aggisutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, đây là ba loại lửa. Ba loại nào? Lửa tham ái, lửa sân hận, lửa si mê. Này các tỳ khưu, đây là ba loại lửa.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Lửa tham ái thiêu đốt những kẻ bị luyến ái, bị mê mẩn về các dục, còn lửa sân hận thiêu đốt những kẻ có tâm sái quấy, những kẻ giết hại các sinh mạng.
3. Và lửa si mê thiêu đốt những kẻ bị mê muội, không rành rẽ về pháp bậc Thánh. Những kẻ thỏa thích với thân (ngũ uẩn) không biết những ngọn lửa này.
4. Những kẻ ấy khiến cho địa ngục, các thai bào của các loài súc sanh, hạng A-tu-la, cảnh giới ngạ quỷ được tăng trưởng; họ không thoát khỏi sự trói buộc của Ma Vương.
5. Và những người nào ngày đêm gắn bó vào lời dạy của đấng Chánh Đẳng Giác, những người ấy diệt tắt lửa luyến ái, thường xuyên có sự suy tưởng về bất tịnh.
6. Hơn nữa, các bậc tối thượng nhân diệt tắt lửa sân hận bằng từ ái, và (diệt tắt) lửa si mê bằng trí tuệ, đây là pháp đưa đến sự thấu triệt.
7. Sau khi đã diệt tắt (ba loại lửa), các bậc chín chắn ấy, ngày đêm không thụ động, rồi viên tịch Niết Bàn không còn dư sót, các vị đã vượt qua khổ đau không còn dư sót.
8. Các bậc hiểu biết sâu sắc, đã nhìn thấy pháp của bậc Thánh, các bậc sáng suốt, sau khi hiểu biết đúng đắn, sau khi biết rõ sự diệt trừ việc sanh ra, không đi đến sự hiện hữu lại nữa.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
93. Điều này đã được Thế Tôn, bậc A-la-hán, thuyết giảng và tôi đã nghe như vầy:
“Tayome, bhikkhave, aggī. Katame tayo? Rāgaggi, dosaggi, mohaggi—ime kho, bhikkhave, tayo aggī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“Mendicants, there are these three fires. What three? The fires of greed, hate, and delusion. These are the three fires.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
“Này các Tỳ khưu, có ba loại lửa này. Ba loại nào? Lửa tham, lửa sân, lửa si. Này các Tỳ khưu, đây là ba loại lửa.” Thế Tôn đã thuyết giảng ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến như sau:
“Rāgaggi dahati macce, ratte kāmesu mucchite; Dosaggi pana byāpanne, nare pāṇātipātino.
“The fire of greed burns a mortal, lustful, infatuated by sensual pleasures; while, fallen in the fire of hate, a person kills living creatures;
“Lửa tham thiêu đốt các chúng sanh bị tham đắm, say mê trong các dục; còn lửa sân thiêu đốt những người có sân hận, những kẻ sát sanh.
Mohaggi pana sammūḷhe, ariyadhamme akovide; Ete aggī ajānantā, sakkāyābhiratā pajā.
and, bewildered by the fire of delusion, they miss the teaching of the noble ones. Not recognizing these three fires, people are caught up in substantial reality.
“Còn lửa si thiêu đốt những người si mê, không thông thạo Thánh pháp. Chúng sanh không biết đến ba ngọn lửa này, lại ưa thích trong thân kiến.
Te vaḍḍhayanti nirayaṁ, tiracchānañca yoniyo; Asuraṁ pettivisayaṁ, amuttā mārabandhanā.
They fill the ranks of hell, of birth as an animal, or of titans and ghosts, not freed from Māra’s bonds.
“Họ làm tăng trưởng cõi địa ngục, các loài bàng sanh, cõi a-tu-la và cảnh giới ngạ quỷ; họ không được giải thoát khỏi sự trói buộc của Ma vương.
Ye ca rattindivā yuttā, sammāsambuddhasāsane; Te nibbāpenti rāgaggiṁ, niccaṁ asubhasaññino.
But as to those committed day and night to the teaching of the Buddha: they extinguish the fire of greed, always perceiving ugliness;
“Còn những ai ngày đêm chuyên cần trong giáo pháp của bậc Chánh Đẳng Giác, họ dập tắt lửa tham, do thường xuyên có tưởng về sự bất tịnh.
Dosaggiṁ pana mettāya, nibbāpenti naruttamā; Mohaggiṁ pana paññāya, yāyaṁ nibbedhagāminī.
while those supreme men extinguish the fire of hate with love; and the fire of delusion with the wisdom that leads to penetration.
“Những bậc tối thượng dập tắt lửa sân bằng tâm từ; và dập tắt lửa si bằng trí tuệ, loại trí tuệ dẫn đến sự thông suốt.
Te nibbāpetvā nipakā, rattindivamatanditā; Asesaṁ parinibbanti, asesaṁ dukkhamaccaguṁ.
Having extinguished these fires, alert, tireless all day and night, they become fully extinguished, completely transcending suffering.
“Sau khi đã dập tắt (các ngọn lửa ấy), những bậc hiền trí, không mệt mỏi ngày đêm, đã đạt đến Niết-bàn vô dư, đã vượt qua mọi khổ đau không còn sót lại.
Ariyaddasā vedaguno, sammadaññāya paṇḍitā; Jātikkhayamabhiññāya, nāgacchanti punabbhavan”ti.
Seers of the noble truths, knowledge masters, the astute, understanding rightly, directly know the ending of rebirth, they come not back to future lives.”
“Những bậc hiền trí đã thấy được các (sự thật) bậc Thánh, đã đạt đến tuệ giác, sau khi đã hiểu biết một cách đúng đắn, sau khi đã thắng tri về sự đoạn tận của sanh, các vị ấy không còn đi đến tái sanh.”
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Catutthaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Thế Tôn thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy. (Kinh thứ) tư.