- Itivuttaka 92
- Tikanipāta
- Pañcamavagga
Bản dịch
ITI 92 — Kinh Chéo Y Hai Lớp
Saṅghāṭikaṇṇasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, cho dầu vị tỳ khưu có thể nắm lấy chéo y hai lớp rồi theo sát phía sau, trong khi đặt xuống bàn chân theo từng vết bàn chân. Và vị ấy bị tham đắm, có sự luyến ái sắc nét ở các dục, có tâm bị sái quấy, có ý suy tư bị tồi bại, có niệm bị quên lãng, không có sự nhận biết rõ, không định tĩnh, có tâm bị tán loạn, có giác quan bị buông lơi. Khi ấy, vị ấy vẫn xa cách Ta, và Ta xa cách vị ấy. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Này các tỳ khưu, bởi vì vị tỳ khưu ấy không nhìn thấy pháp, trong khi không nhìn thấy pháp thì không nhìn thấy Ta.
Này các tỳ khưu, cho dầu vị tỳ khưu ấy có thể sống xa một trăm do-tuần, và vị ấy không bị tham đắm, không có sự luyến ái sắc nét ở các dục, có tâm không bị sái quấy, có ý suy tư không bị tồi bại, có niệm được thiết lập, có sự nhận biết rõ, được định tĩnh, có tâm được chuyên nhất, có giác quan đã được thu thúc. Khi ấy, vị ấy rất gần Ta, và Ta rất gần vị ấy. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Này các tỳ khưu, bởi vì vị tỳ khưu ấy nhìn thấy pháp, trong khi nhìn thấy pháp thì nhìn thấy Ta.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Cho dầu theo sát, nhưng có ước muốn lớn lao và có sự buồn phiền, kẻ đeo đuổi dục vọng đối với người không dục vọng, kẻ chưa diệt tắt đối với người đã diệt tắt, kẻ thèm khát đối với người đã lìa sự thèm khát, ngươi hãy nhìn xem xa cách đến chừng nào.
3. Và sau khi biết rõ pháp, sau khi hiểu được pháp, bậc sáng suốt ấy không còn dục vọng, được yên lặng, tựa như hồ nước khi đứng gió.
4. Vị không dục vọng ấy đối với người không dục vọng, đã diệt tắt đối với người đã diệt tắt, không thèm khát đối với người đã lìa sự thèm khát, ngươi hãy nhìn xem gần gũi đến chừng nào.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 92
- The Book of the Threes
- Chapter Five
The Corner of the Cloak
3. Kinh Về Góc Tăng-già-lê
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
92. Điều này đã được đức Thế Tôn, bậc A-la-hán thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy:
“Saṅghāṭikaṇṇe cepi, bhikkhave, bhikkhu gahetvā piṭṭhito piṭṭhito anubandho assa pāde pādaṁ nikkhipanto, so ca hoti abhijjhālu kāmesu tibbasārāgo byāpannacitto paduṭṭhamanasaṅkappo muṭṭhassati asampajāno asamāhito vibbhantacitto pākatindriyo; atha kho so ārakāva mayhaṁ, ahañca tassa. Taṁ kissa hetu? Dhammañhi so, bhikkhave, bhikkhu na passati. Dhammaṁ apassanto na maṁ passati.
“Mendicants, suppose a mendicant were to hold the corner of my cloak and follow behind me step by step. Yet they covet sensual pleasures; they’re infatuated, full of ill will and malicious intent. They are unmindful, lacking situational awareness and immersion, with straying minds and undisciplined faculties. Then they are far from me, and I from them. Why is that? Because that mendicant does not see the teaching. Not seeing the teaching, they do not see me.
“Này các Tỳ khưu, cho dù một vị Tỳ khưu có nắm lấy góc y Tăng-già-lê của Ta mà đi theo sát gót, đặt chân lên dấu chân của Ta, nhưng nếu vị ấy tham lam, có lòng ham muốn mãnh liệt đối với các dục vọng, có tâm sân hận, có ý định xấu xa, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn không được chế ngự; thì vị ấy vẫn xa Ta, và Ta cũng xa vị ấy. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, vì vị Tỳ khưu ấy không thấy Pháp. Không thấy Pháp, vị ấy không thấy Ta.”
Yojanasate cepi so, bhikkhave, bhikkhu vihareyya. So ca hoti anabhijjhālu kāmesu na tibbasārāgo abyāpannacitto apaduṭṭhamanasaṅkappo upaṭṭhitassati sampajāno samāhito ekaggacitto saṁvutindriyo; atha kho so santikeva mayhaṁ, ahañca tassa. Taṁ kissa hetu? Dhammañhi so, bhikkhave, bhikkhu passati; dhammaṁ passanto maṁ passatī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
Suppose a mendicant were to live a hundred leagues away. Yet they do not covet sensual pleasures; they’re not infatuated, or full of ill will and malicious intent. They have established mindfulness, situational awareness and immersion, with unified mind and restrained faculties. Then they are close to me, and I to them. Why is that? Because that mendicant sees the teaching. Seeing the teaching, they see me.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
“Này các Tỳ khưu, cho dù vị Tỳ khưu ấy có thể sống cách xa một trăm do-tuần. Vị ấy không tham lam, không có tham ái mãnh liệt ở các dục, có tâm không sân hận, có ý định không ác độc, có niệm được an trú, có sự tỉnh giác, được định tĩnh, có tâm nhất điểm, có các căn được phòng hộ; thì vị ấy vẫn ở gần Ta, và Ta cũng ở gần vị ấy. Vì sao thế? Này các Tỳ khưu, vì vị Tỳ khưu ấy thấy được Pháp; do thấy được Pháp nên thấy được Ta.” Thế Tôn đã thuyết giảng ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến như sau:
“Anubandhopi ce assa, mahiccho ca vighātavā; Ejānugo anejassa, nibbutassa anibbuto; Giddho so vītagedhassa, passa yāvañca ārakā.
“One full of desire and distress may follow close behind, yet see how distant they are—the stirred from the still, the burning from the quenched, the greedy from the greedless.
“Cho dù có đi theo sau, nhưng lại có nhiều mong muốn và gây phiền não; người đi theo sự dao động lại theo sau bậc không dao động, người không tịch tịnh lại theo sau bậc đã tịch tịnh; người tham ái lại theo sau bậc đã hết tham ái. Hãy xem, người ấy thật quá xa vời.
Yo ca dhammamabhiññāya, dhammamaññāya paṇḍito; Rahadova nivāte ca, anejo vūpasammati.
An astute person who has understood and directly known the teaching, grows calm, as unperturbed as a lake free of wind.
“Và bậc hiền trí nào, sau khi đã thắng tri Pháp, sau khi đã liễu tri Pháp, được lắng dịu, không dao động, giống như hồ nước ở nơi lặng gió.
Anejo so anejassa, nibbutassa ca nibbuto; Agiddho vītagedhassa, passa yāvañca santike”ti.
See how close they are—the still to the still, the quenched to the quenched, the greedless to the greedless.”
“Vị ấy không dao động đối với bậc không dao động, đã tịch tịnh đối với bậc đã tịch tịnh, không tham ái đối với bậc đã hết tham ái. Hãy xem, người ấy thật quá gần gũi.”
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Tatiyaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Thế Tôn thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy. (Kinh thứ) ba.