- Itivuttaka 91
- Tikanipāta
- Pañcamavagga
Jīvikasutta
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
Bản dịch
Jīvikasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, việc này là tận cùng trong các việc nuôi mạng, tức là sự khất thực. Này các tỳ khưu, có lời nguyền rủa này ở thế gian: ‘Ông là kẻ khất thực, đi lang thang, tay cầm bình bát.’ Và này các tỳ khưu, những người con trai gia đình danh giá, những người sống cho tự ngã, tùy thuận tác động của tự ngã đi đến với việc khất thực ấy, chẳng phải bị thúc ép bởi vua, chẳng phải bị thúc ép bởi quân cướp, không vì có nợ nần, không vì có sợ hãi, không phải do tác động bởi sự nuôi mạng. Nhưng (vì nghĩ rằng): ‘Chúng tôi bị sa đọa bởi sự sanh, sự già, sự chết, các sự sầu bi khổ ưu não, bị chất chồng bởi khổ, bị quấy nhiễu bởi khổ, mong sao việc làm chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này có thể được nhận biết.’
Và này các tỳ khưu, được xuất gia như vậy, người con trai gia đình danh giá này bị tham đắm trong các dục, có sự luyến ái sắc bén, có tâm bị sái quấy, có ý suy tư bị tồi bại, có niệm bị quên lãng, không có sự nhận biết rõ, không định tĩnh, có tâm bị tán loạn, có giác quan bị buông lơi.
Này các tỳ khưu, cũng giống như thanh gỗ ở lò thiêu xác chết bị đốt cháy ở hai đầu, bị lấm phân ở khoảng giữa, không sử dụng được vì mục đích củi đốt không chỉ ở làng mà luôn cả ở rừng, này các tỳ khưu, Ta nói về người này với ví dụ như thế, người này đã buông bỏ các sự hưởng thụ tại gia nhưng không làm đầy đủ mục đích của hạnh Sa-môn.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Kẻ đã buông bỏ các sự hưởng thụ tại gia và có phần yếu kém về mục đích của hạnh Sa-môn, trong khi đang bị hủy hoại, kẻ ấy buông lung, rồi bị tiêu hoại như thanh gỗ ở lò thiêu xác chết.
3. Có nhiều kẻ, cổ quấn y casa, (hành) theo pháp ác, không tự chế ngự, những kẻ xấu xa ấy, do các nghiệp ác, bị sanh vào địa ngục.
4. Hòn sắt cháy rực tựa như ngọn lửa được ăn vào là tốt hơn so với kẻ có giới tồi, không tự chế ngự, ăn đồ ăn khất thực của xứ sở.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
91. Điều này đã được đức Thế Tôn, bậc A-la-hán thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy:
“Antamidaṁ, bhikkhave, jīvikānaṁ yadidaṁ piṇḍolyaṁ. Abhisāpoyaṁ, bhikkhave, lokasmiṁ: ‘piṇḍolo vicarasi pattapāṇī’ti. Tañca kho etaṁ, bhikkhave, kulaputtā upenti atthavasikā, atthavasaṁ paṭicca; neva rājābhinītā, na corābhinītā, na iṇaṭṭā, na bhayaṭṭā, na ājīvikāpakatā. Api ca kho ‘otiṇṇamhā jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi dukkhotiṇṇā dukkhaparetā, appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā’ti. Evaṁ pabbajito cāyaṁ, bhikkhave, kulaputto. So ca hoti abhijjhālu kāmesu tibbasārāgo, byāpannacitto paduṭṭhamanasaṅkappo, muṭṭhassati asampajāno asamāhito vibbhantacitto pākatindriyo. Seyyathāpi, bhikkhave, chavālātaṁ ubhatopadittaṁ majjhe gūthagataṁ neva gāme kaṭṭhatthaṁ pharati na araññe; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi gihibhogā parihīno sāmaññatthañca na paripūretī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“This is the last of lifestyles, mendicants, namely relying on alms. The world curses you: ‘You beggar, walking bowl in hand!’ Yet earnest gentlemen take it up for a good reason. Not to escape a summons by a king or a summons for a bandit, or because you were in debt or in fear, or in order to make a living. Rather, because they think: ‘I’m swamped by rebirth, old age, and death; by sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. I’m swamped by suffering, mired in suffering. Hopefully I can make an end to this entire mass of suffering.’ That’s how this gentleman has gone forth. Yet they covet sensual pleasures; they’re infatuated, full of ill will and malicious intent. They are unmindful, lacking situational awareness and immersion, with straying minds and undisciplined faculties. Suppose there was a firebrand for lighting a funeral pyre, burning at both ends, and smeared with dung in the middle. It couldn’t be used as timber either in the village or the wilderness. I say that individual is just like this. They’ve missed out on the pleasures of the lay life, and haven’t fulfilled the goal of the ascetic life.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
“Này các Tỳ khưu, trong các loại sinh kế, việc đi khất thực là thấp kém nhất. Này các Tỳ khưu, đây là một lời nguyền rủa ở thế gian: ‘Ngươi là kẻ khất thực, đi lang thang với cái bát trong tay.’ Tuy nhiên, này các Tỳ khưu, các thiện gia nam tử theo đuổi lối sống này vì một mục đích, dựa vào một mục đích; không phải bị vua ép buộc, không phải bị trộm cướp ép buộc, không phải vì nợ nần, không phải vì sợ hãi, không phải vì mất phương tiện sinh nhai. Mà là: ‘Chúng ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị khổ đau áp đảo, bị khổ đau chi phối. Mong rằng sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ này có thể được biết đến.’ Này các Tỳ khưu, thiện gia nam tử này đã xuất gia như vậy, nhưng lại tham lam, có lòng ham muốn mãnh liệt đối với các dục vọng, có tâm sân hận, có ý định xấu xa, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn không được chế ngự. Này các Tỳ khưu, ví như một khúc củi giàn thiêu, cháy ở hai đầu, dính phẩn ở giữa, không dùng làm củi trong làng cũng không dùng được trong rừng: Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng người này cũng giống như ví dụ ấy, đã từ bỏ các thú vui tại gia mà cũng không hoàn thành được mục đích của đời sống sa-môn.” Ý nghĩa này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng. Về vấn đề này, có lời kệ được nói như sau:
“Gihibhogā parihīno, Sāmaññatthañca dubbhago; Paridhaṁsamāno pakireti, Chavālātaṁva nassati.
“They’ve left behind the pleasures of the lay life, and miss out on the goal of the ascetic life. Ruining it, they throw it away, and perish like a funeral firebrand.
“Đã từ bỏ các thú vui tại gia, lại bất hạnh trong mục đích của đời sống sa-môn; bị hủy hoại, người ấy tan rã, bị tiêu vong như khúc củi giàn thiêu.
Kāsāvakaṇṭhā bahavo, pāpadhammā asaññatā; Pāpā pāpehi kammehi, nirayaṁ te upapajjare.
Many who wear a scrap of ocher cloth are unrestrained and wicked. Being wicked, they are reborn in hell due to their bad deeds.
Nhiều kẻ quấn y vàng quanh cổ, có ác pháp, không được chế ngự; những kẻ ác ấy, do các hành vi xấu ác của mình, sẽ sanh vào địa ngục.
Seyyo ayoguḷo bhutto, tatto aggisikhūpamo; Yañce bhuñjeyya dussīlo, raṭṭhapiṇḍamasaññato”ti.
It’d be better for the immoral and unrestrained to eat an iron ball, scorching, like a burning flame, than to eat the nation’s alms.”
Thà nuốt một hòn sắt nóng, cháy rực như ngọn lửa, còn hơn là một người vô giới, không được chế ngự, lại ăn vật thực khất thực của quốc độ.”
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dutiyaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy. (Kinh) thứ hai.