- Itivuttaka 90
- Tikanipāta
- Pañcamavagga
Bản dịch
ITI 90 — Kinh Sự Tịnh Tín Tối Cao
Aggappasādasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, đây là ba sự tịnh tín tối cao. Ba sự tịnh tín nào?
Này các tỳ khưu, so sánh với các chúng sanh không chân, hoặc hai chân, hoặc bốn chân, hoặc nhiều chân, hoặc có sắc, hoặc vô sắc, hoặc có tưởng hoặc vô tưởng, hoặc phi tưởng phi phi tưởng, đức Như Lai được gọi là tối cao trong số ấy, tức là bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác. Này các tỳ khưu, những ai tịnh tín ở đức Phật, những người ấy tịnh tín ở đối tượng tối cao. Hơn nữa, đối với những ai tịnh tín ở đối tượng tối cao, quả thành tựu của họ là tối cao.
Này các tỳ khưu, so sánh với các pháp hữu vi hoặc vô vi, sự xa lìa luyến ái được gọi là tối cao trong số các pháp ấy, tức là sự nghiền nát say đắm, sự xua đi khao khát, sự thủ tiêu các pháp ngủ ngầm, sự bẻ gãy vòng xoay, sự diệt trừ tham ái, sự xa lìa luyến ái, sự tịch diệt, Niết Bàn. Này các tỳ khưu, những ai tịnh tín ở pháp xa lìa luyến ái, những người ấy tịnh tín ở đối tượng tối cao. Hơn nữa, đối với những ai tịnh tín ở đối tượng tối cao, quả thành tựu của họ là tối cao.
Này các tỳ khưu, so sánh với hội chúng hoặc tập thể, hội chúng Thinh Văn của đức Như Lai được gọi là tối cao trong số ấy, tức là bốn cặp hạng người (bốn đôi Đạo Quả), tám hạng người tính đơn (bốn Đạo và bốn Quả là tám). Hội chúng Thinh Văn ấy của đức Thế Tôn đáng được hiến cúng, đáng được hiến dâng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là nơi để gieo trồng phước báu của thế gian không gì hơn được. Này các tỳ khưu, những ai tịnh tín ở Tăng Chúng, những người ấy tịnh tín ở đối tượng tối cao. Hơn nữa, đối với những ai tịnh tín ở đối tượng tối cao, quả thành tựu của họ là tối cao.
Này các tỳ khưu, đây là ba sự tịnh tín tối cao.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Thật vậy, đối với những người tịnh tín đang nhận biết Giáo Pháp tối cao là tối cao, đối với những người tịnh tín ở đức Phật tối cao, bậc xứng đáng cúng dường, đấng Vô Thượng, ...
3. Thật vậy, đối với những người tịnh tín ở Giáo Pháp tối cao, xa lìa luyến ái, yên tịnh, an lạc, đối với những người tịnh tín ở Tăng Chúng tối cao, ruộng phước vô thượng, ...
4. Đối với những người đang dâng cúng vật thí ở đối tượng tối cao, phước thiện tối cao tăng trưởng, tuổi thọ, sắc đẹp, danh vọng, tiếng tăm, hạnh phúc, sức mạnh tối cao.
5. Người bố thí đến đối tượng tối cao là bậc thông minh, đã được tập trung ở Giáo Pháp tối cao, dầu có bản thể chư Thiên hay là nhân loại, người đã đạt đến trạng thái tối cao thì vui sướng.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 90
- The Book of the Threes
- Chapter Five
The Best Kinds of Confidence
1. Kinh Về Tịnh Tín Tối Thượng
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
90. Điều này đã được đức Thế Tôn, bậc A-la-hán thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy:
“Tayome, bhikkhave, aggappasādā. Katame tayo? Yāvatā, bhikkhave, sattā apadā vā dvipadā vā catuppadā vā bahuppadā vā rūpino vā arūpino vā saññino vā asaññino vā nevasaññināsaññino vā, tathāgato tesaṁ aggamakkhāyati arahaṁ sammāsambuddho. Ye, bhikkhave, buddhe pasannā, agge te pasannā. Agge kho pana pasannānaṁ aggo vipāko hoti.
“Mendicants, these three kinds of confidence are the best. What three? Mendicants, the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha, is said to be the best of all sentient beings—be they footless, with two feet, four feet, or many feet; with form or formless; with perception or without perception or with neither perception nor non-perception. Those who have confidence in the Buddha have confidence in the best. Having confidence in the best, the result is the best.
“Này các Tỳ khưu, có ba loại tịnh tín tối thượng này. Thế nào là ba? Này các Tỳ khưu, trong tất cả chúng sanh, không chân hoặc hai chân, bốn chân hoặc nhiều chân, có sắc hoặc không sắc, có tưởng hoặc không tưởng, hoặc phi tưởng phi phi tưởng, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, được tuyên bố là tối thượng trong số ấy. Này các Tỳ khưu, những ai tịnh tín nơi đức Phật, họ tịnh tín nơi đối tượng tối thượng. Đối với những người tịnh tín nơi đối tượng tối thượng, quả báo là tối thượng.
Yāvatā, bhikkhave, dhammā saṅkhatā vā asaṅkhatā vā, virāgo tesaṁ aggamakkhāyati, yadidaṁ madanimmadano pipāsavinayo ālayasamugghāto vaṭṭupacchedo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṁ. Ye, bhikkhave, virāge dhamme pasannā, agge te pasannā. Agge kho pana pasannānaṁ aggo vipāko hoti.
Fading away is said to be the best of all things whether conditioned or unconditioned. That is, the quelling of vanity, the removing of thirst, the uprooting of clinging, the breaking of the round, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment. Those who have confidence in the teaching of fading away have confidence in the best. Having confidence in the best, the result is the best.
Này các Tỳ khưu, trong tất cả các pháp, hữu vi hoặc vô vi, sự ly tham được tuyên bố là tối thượng, tức là sự dẹp tan kiêu mạn, sự trừ bỏ khát ái, sự nhổ lên chấp thủ, sự cắt đứt luân hồi, sự đoạn tận ái dục, sự ly tham, sự đoạn diệt, Niết-bàn. Này các Tỳ khưu, những ai tịnh tín nơi pháp ly tham, họ tịnh tín nơi đối tượng tối thượng. Đối với những người tịnh tín nơi đối tượng tối thượng, quả báo là tối thượng.
Yāvatā, bhikkhave, saṅghā vā gaṇā vā, tathāgatasāvakasaṅgho tesaṁ aggamakkhāyati, yadidaṁ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa. Ye, bhikkhave, saṅghe pasannā, agge te pasannā. Agge kho pana pasannānaṁ aggo vipāko hoti. Ime kho, bhikkhave, tayo aggappasādā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
The Saṅgha of the Realized One’s disciples is said to be the best of all communities and groups. It consists of the four pairs, the eight individual persons. This is the Saṅgha of the Buddha’s disciples that is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world. Those who have confidence in the Saṅgha have confidence in the best. Having confidence in the best, the result is the best. These are the three best kinds of confidence.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
Này các Tỳ khưu, trong tất cả các Tăng đoàn hoặc hội chúng, Tăng đoàn đệ tử của Như Lai được tuyên bố là tối thượng, tức là bốn đôi tám vị, Tăng đoàn đệ tử của đức Thế Tôn này đáng được cúng dường, đáng được nghênh đón, đáng được bố thí, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Này các Tỳ khưu, những ai tịnh tín nơi Tăng đoàn, họ tịnh tín nơi đối tượng tối thượng. Đối với những người tịnh tín nơi đối tượng tối thượng, quả báo là tối thượng. Này các Tỳ khưu, đây là ba loại tịnh tín tối thượng.” Ý nghĩa này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng. Về vấn đề này, có lời kệ được nói như sau:
“Aggato ve pasannānaṁ, aggaṁ dhammaṁ vijānataṁ; Agge buddhe pasannānaṁ, dakkhiṇeyye anuttare.
“For those who, knowing the best teaching, base their confidence on the best—confident in the best Awakened One, supremely worthy of a religious donation;
“Đối với những người tịnh tín nơi đối tượng tối thượng, những người biết được Pháp tối thượng; đối với những người tịnh tín nơi đức Phật tối thượng, bậc đáng được cúng dường vô song.
Agge dhamme pasannānaṁ, virāgūpasame sukhe; Agge saṅghe pasannānaṁ, puññakkhette anuttare.
confident in the best teaching, the bliss of fading and stilling; confident in the best Saṅgha, the supreme field of merit—
Đối với những người tịnh tín nơi Pháp tối thượng, là sự an lạc của ly tham và tịch tịnh; đối với những người tịnh tín nơi Tăng đoàn tối thượng, là ruộng phước vô song.
Aggasmiṁ dānaṁ dadataṁ, aggaṁ puññaṁ pavaḍḍhati; Aggaṁ āyu ca vaṇṇo ca, yaso kitti sukhaṁ balaṁ.
giving gifts to the best, the best of merit grows: the best lifespan, beauty, fame, reputation, happiness, and strength.
Khi dâng cúng đến đối tượng tối thượng, phước báu tối thượng được tăng trưởng; tuổi thọ, sắc đẹp, danh tiếng, tiếng tăm, an lạc, và sức mạnh tối thượng (cũng tăng trưởng).
Aggassa dātā medhāvī, aggadhammasamāhito; Devabhūto manusso vā, aggappatto pamodatī”ti.
An intelligent person gives to the best, settled on the best teaching. When they become a god or human, they rejoice at reaching the best.”
Người trí tuệ, người dâng cúng đến đối tượng tối thượng, người an trú trong Pháp tối thượng; dù sanh làm trời hay làm người, khi đạt đến quả vị tối thượng, vị ấy hoan hỷ.”
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Paṭhamaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy. (Kinh) thứ nhất.