- Itivuttaka 81
- Tikanipāta
- Catutthavagga
Bản dịch
ITI 81 — Kinh Tôn Vinh
Sakkārasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, Ta đã nhìn thấy do sự tôn vinh các chúng sanh bị chế ngự, có tâm bị nắm giữ, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, bị sanh vào đọa xứ, cõi khổ, nơi trừng phạt, địa ngục. Này các tỳ khưu, Ta đã nhìn thấy do sự không tôn vinh các chúng sanh bị chế ngự, có tâm bị nắm giữ, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, bị sanh vào đọa xứ, cõi khổ, nơi trừng phạt, địa ngục. Này các tỳ khưu, Ta đã nhìn thấy do sự tôn vinh và do sự không tôn vinh các chúng sanh bị chế ngự, có tâm bị nắm giữ, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, bị sanh vào đọa xứ, cõi khổ, nơi trừng phạt, địa ngục.
Này các tỳ khưu, hơn nữa không phải đã nghe từ vị Sa- môn hoặc Bà-la- môn nào khác mà Ta nói điều ấy. Này các tỳ khưu, chỉ có điều nào mà Ta tự mình đã biết, tự mình đã thấy, tự mình đã hiểu, thì Ta nói về điều ấy.
Này các tỳ khưu, Ta đã nhìn thấy do sự tôn vinh các chúng sanh bị chế ngự, có tâm bị nắm giữ, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, bị sanh vào đọa xứ, cõi khổ, nơi trừng phạt, địa ngục. Này các tỳ khưu, Ta đã nhìn thấy do sự không tôn vinh các chúng sanh bị chế ngự, có tâm bị nắm giữ, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, bị sanh vào đọa xứ, cõi khổ, nơi trừng phạt, địa ngục. Này các tỳ khưu, Ta đã nhìn thấy do sự tôn vinh và do sự không tôn vinh các chúng sanh bị chế ngự, có tâm bị nắm giữ, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, bị sanh vào đọa xứ, cõi khổ, nơi trừng phạt, địa ngục.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Ở cả hai trường hợp, trong khi được tôn vinh và với sự không tôn vinh, vị nào có định không dao động, có nếp sống không xao lãng, ...
3. ... vị ấy, có thiền, thường xuyên hành minh sát với nhận thức vi tế, có sự ưa thích việc diệt trừ chấp thủ, được gọi là ‘bậc chân nhân.’”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 81
- The Book of the Threes
- Chapter Four
Esteem
2. Kinh Cung Kính
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
81. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như vậy:
“Diṭṭhā mayā, bhikkhave, sattā sakkārena abhibhūtā, pariyādinnacittā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā.
“I’ve seen, mendicants, sentient beings whose minds are overcome and overwhelmed by honor. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.
Này các Tỷ kheo, Ta đã thấy các chúng sanh bị sự cung kính chi phối, tâm bị xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Diṭṭhā mayā, bhikkhave, sattā asakkārena abhibhūtā, pariyādinnacittā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā.
I’ve seen sentient beings whose minds are overcome and overwhelmed by not being honored. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.
Này các Tỷ kheo, Ta đã thấy các chúng sanh bị sự không cung kính chi phối, tâm bị xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Diṭṭhā mayā, bhikkhave, sattā sakkārena ca asakkārena ca tadubhayena abhibhūtā, pariyādinnacittā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā.
I’ve seen sentient beings whose minds are overcome and overwhelmed by both honor and by not being honored. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.
Này các Tỷ kheo, Ta đã thấy các chúng sanh bị cả sự cung kính và sự không cung kính, bị cả hai chi phối, tâm bị xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Taṁ kho panāhaṁ, bhikkhave, nāññassa samaṇassa vā brāhmaṇassa vā sutvā vadāmi; (…) api ca, bhikkhave, yadeva me sāmaṁ ñātaṁ sāmaṁ diṭṭhaṁ sāmaṁ viditaṁ tamevāhaṁ vadāmi.
Now, I don’t say this because I’ve heard it from some other ascetic or brahmin. I only say it because I’ve known, seen, and realized it for myself.”
Này các Tỷ kheo, Ta nói lên điều này không phải vì đã nghe từ một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác. Mà này các Tỷ kheo, Ta chỉ nói lên những gì đã được Ta tự mình biết, tự mình thấy, tự mình liễu tri.
Diṭṭhā mayā, bhikkhave, sattā sakkārena abhibhūtā, pariyādinnacittā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā.
Ta đã thấy, này các Tỷ kheo, các chúng sanh bị sự cung kính chi phối, tâm bị xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Diṭṭhā mayā, bhikkhave, sattā asakkārena abhibhūtā, pariyādinnacittā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā.
Ta đã thấy, này các Tỷ kheo, các chúng sanh bị sự không cung kính chi phối, tâm bị xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Diṭṭhā mayā, bhikkhave, sattā sakkārena ca asakkārena ca tadubhayena abhibhūtā, pariyādinnacittā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
Ta đã thấy, này các Tỷ kheo, các chúng sanh bị cả sự cung kính và sự không cung kính, bị cả hai chi phối, tâm bị xâm chiếm, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Thế Tôn đã thuyết giảng ý nghĩa này. Về vấn đề này, có lời dạy như sau:
“Yassa sakkariyamānassa, asakkārena cūbhayaṁ; Samādhi na vikampati, appamādavihārino.
“Whether they’re honored or not honored, or both, their immersion doesn’t waver as they abide in the immeasurables.
Vị nào, khi được cung kính, hay không được cung kính, hay cả hai, vị nào sống không phóng dật, định của vị ấy không bị dao động.
Taṁ jhāyinaṁ sātatikaṁ, sukhumadiṭṭhivipassakaṁ; Upādānakkhayārāmaṁ, āhu sappuriso itī”ti.
They persistently practice absorption with subtle view and discernment. Rejoicing in the ending of grasping, they’re said to be a true person.”
Người thường xuyên tu tập thiền định, bền bỉ, có tuệ quán thấu triệt tinh vi, vui thích trong sự đoạn tận các chấp thủ (Quả vị A-la-hán); người ta gọi vị ấy là bậc chân nhân.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dutiyaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Thế Tôn thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy. (Kinh) thứ hai.